Sau 5 năm gia nhập WTO: Năng lực cạnh tranh của DN Việt Nam đã được cải thiện
Nhiều doanh nghiệp đã đầu tư cải thiện công nghệ để nâng cao năng lực cạnh tranh   (Ảnh: HP) Nhiều doanh nghiệp đã đầu tư cải thiện công nghệ để nâng cao năng lực cạnh tranh (Ảnh: HP)
Đó là khẳng định của các chuyên gia kinh tế tại Hội thảo khoa học cấp quốc gia “Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp Việt Nam sau 5 năm gia nhập WTO” diễn ra mới đây tại Hà Nội.
Những khởi sắc đáng ghi nhận


Việt Nam chính thức gia nhập WTO từ ngày 11-1-2007, là thành viên thứ 150 của Tổ chức. Sau 5 năm gia nhập Tổ chức Thương mại thế giới (WTO), năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp Việt Nam đến đâu là câu hỏi được nhiều người quan tâm, bởi lẽ trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế, năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp là yếu tố đóng vai trò quyết định sự thành bại không chỉ của doanh nghiệp, mà còn của quốc gia. Có nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp, mới nâng cao được năng lực cạnh tranh của nền kinh tế, người lao động mới có việc làm, thu nhập.


Đánh giá một cách tổng thể, sau 5 năm gia nhập WTO, năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp Việt Nam đã được cải thiện. Theo báo cáo của Bộ Kế hoạch và Đầu tư, số lượng và chất lượng doanh nghiệp Việt Nam ngày càng được tăng lên. Năm 2011, doanh nghiệp ở nước ta tăng 2,3 lần về số lượng và tăng 7,3 lần về số vốn đăng ký so với thời điểm năm 2007. Nhiều doanh nghiệp đã chú trọng xây dựng kế hoạch sản xuất - kinh doanh dài hạn, đầu tư cho nghiên cứu thị trường, nâng cao hiệu quả sử dụng vốn, áp dụng tiến bộ khoa học - kỹ thuật, công nghệ mới vào sản xuất - kinh doanh, cải tiến công tác quản lý, mở ra những phân khúc thị trường mới.


Sản phẩm của Việt Nam đã chiếm tỷ trọng ngày càng cao trên thị trường nội địa. Trên thị trường thế giới, sản phẩm Việt Nam cũng đã có chỗ đứng. Mở rộng thị trường, tăng nhanh kim ngạch xuất khẩu là thành quả rõ rệt nhất từ khi gia nhập WTO. Quy mô thị trường được mở rộng, đến năm 2010 đã có 19 thị trường Việt Nam xuất khẩu đạt từ 1 tỷ USD trở lên. Sản phẩm của Việt Nam chiếm tỷ trọng ngày càng cao trên thị trường nội địa. Sau khi gia nhập WTO, đã xuất hiện thêm một số doanh nghiệp thuộc lĩnh vực công nghệ cao như viễn thông, sản xuất linh kiện điện tử, dịch vụ ngân hàng, bảo hiểm đạt đẳng cấp quốc tế làm nền tảng cho sự chuyển dịch kinh tế theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa và góp phần nâng cao sức cạnh tranh quốc gia.


Gia nhập WTO cũng tạo ra sự “bùng nổ” làn sóng đầu tư nước ngoài vào Việt Nam với số vốn đăng ký đạt khoảng 146 tỷ USD, trong đó phần vốn giải ngân đạt 45 tỷ USD, vượt 77,8% so với kế hoạch. Đây được xem như là xung lực mới, sự bổ sung nhanh và cần thiết để tiếp sức, tạo dựng hình ảnh và vị thế của doanh nghiệp Việt Nam trên thương trường quốc tế. Không những thế, nhờ chủ động hội nhập, năng lực quản lý, điều hành của nhiều doanh nghiệp đã được cải thiện theo hướng hội nhập, đáp ứng những yêu cầu cũng như thông lệ quốc tế. Mặt khác, Việt Nam đã bắt đầu chuyển từ thu hút FDI quốc tế đồng thời đầu tư ra nước ngoài, một số doanh nghiệp như Viettel, Petro Vietnam, Hoàng Anh - Gia Lai… đã thu được kết quả đáng khích lệ trong hoạt động đầu tư ở một số nước.


Mục tiêu còn ở phía trước


Tuy nhiên, nhiều chuyên gia cũng thẳng thắn đánh giá: sau 5 năm gia nhập WTO, sức cạnh tranh của doanh nghiệp Việt Nam vẫn còn thấp, độ ổn định chưa cao. Rõ nhất là dù đã chuyển sang kinh tế thị trường nhưng cho đến nay, nước ta chưa có nhiều thương hiệu đạt được trình độ quốc tế ngoài một số mặt hàng nông sản xuất khẩu có vị thế dẫn đầu thế giới như hồ tiêu, gạo, cà phê nhưng chủ yếu là gia công, phải nhập khẩu 8,5 tỷ USD nguyên, phụ liệu. Chất lượng và khả năng cạnh tranh về mặt quản lý còn yếu kém. Đội ngũ chủ doanh nghiệp, giám đốc và cán bộ quản lý doanh nghiệp còn nhiều hạn chế về kiến thức và kỹ năng quản lý. Chất lượng lao động thấp thể hiện qua năng suất lao động thấp, chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm cao cũng đang làm hạn chế khả năng cạnh tranh của các doanh nghiệp Việt Nam. Nhiều doanh nghiệp Việt Nam chưa xây dựng được chiến lược cạnh tranh hiệu quả, chưa khẳng định được uy tín, chất lượng và thị phần trên thị trường khu vực và thế giới.


Để khắc phục tình trạng trên, nguyên Thứ trưởng Bộ Thương mại, Lương Văn Tự cho rằng: Mỗi doanh nghiệp cần tự nâng cao năng lực cạnh tranh tùy theo khả năng và điều kiện cụ thể. Hãy bắt đầu bằng việc khắc phục những tồn tại, như: doanh nghiệp vận tải phải tìm cách hạ giá thành cước phí bởi hiện nay giá vận chuyển hàng hóa còn cao, từ đó khó cạnh tranh với doanh nghiệp các nước khu vực ASEAN. Cùng đó, các doanh nghiệp sản xuất cần có biện pháp tiết kiệm năng lượng, giảm chi phí quản lý nhằm hạ giá thành sản phẩm. Hơn nữa, đơn vị nào cũng cần nâng cao trình độ của đội ngũ nhân công, chú trọng tìm thuê chuyên gia giỏi; tập trung huy động nguồn lực để nhập, áp dụng công nghệ mới; chủ động xây dựng và phát huy thương hiệu, kết hợp mở rộng thị trường; tăng cường liên kết...


Theo GS, TSKH Nguyễn Mại, nguyên Thứ trưởng Bộ Công Thương, Nhà nước có vai trò quan trọng trong việc phát hiện, nghiên cứu, đưa ra những giải pháp cần thiết, kịp thời nhằm hỗ trợ doanh nghiệp gia tăng sức cạnh tranh. Trong đó, việc hoạch định chính sách, tạo dựng khung khổ pháp lý là việc rất quan trọng, từ đó tạo điều kiện thuận lợi cho doanh nghiệp.


GS, TSKH Nguyễn Mại nhấn mạnh, cơ quan quản lý cũng cần đổi mới toàn diện chính sách kinh tế, trước hết là chính sách thuế, gồm: thuế VAT, thu nhập doanh nghiệp, thu nhập cá nhân…Việc huy động thuế phải nhằm để họ đủ sức tích lũy, tái đầu tư, phát triển sản xuất, công nghệ. Mặt khác, vấn đề vốn cho doanh nghiệp cần được tiếp cận thẳng thắn, hợp lý để ngân hàng thực sự là “bà đỡ” cho doanh nghiệp.


Những kết quả bước đầu sau 5 năm hội nhập là "bàn đạp” để kinh tế Việt Nam trỗi dậy, trở thành nền kinh tế mạnh trong khu vực. Tuy nhiên, những vấn đề đặt ra đòi hỏi Chính phủ phải tiếp tục hoàn thiện. Trong đó các Bộ, ngành cần phối hợp tốt hơn để tránh ùn tắc và hạn chế các khoảng trống trong quản lý. Thêm vào đó, cần xây dựng chiến lược hội nhập WTO lâu dài định hướng cho phát triển của các ngành kinh tế mũi nhọn. Hơn thế, Nhà nước cũng nên chủ động chống độc quyền kịp thời và mạnh mẽ hơn. Sự đa dạng hóa nguồn cung trong hoạt động thuộc lĩnh vực viễn thông là một ví dụ cho sự “cởi trói”, thu hút sự tham gia thị trường của nhiều doanh nghiệp và tạo ra sự cạnh tranh bình đẳng.


Hoài Nam
Nguồn: Báo điện tử Công lý