Đồng điệu cam kết quốc tế & chính sách quốc nội
Nhà làm chính sách của Việt Nam đã bắt đầu nắm rõ và tuân thủ luật chơi hội nhập. Cuối tháng 2 vừa qua, trong nỗ lực đương đầu với lạm phát và thâm hụt thương mại, Chính phủ đã ban hành Nghị Quyết số 11/NQ-CP về những giải pháp chủ yếu tập trung kiềm chế lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô. Một trong số 5 nhóm giải pháp là thúc đẩy sản xuất, kinh doanh trong nước, khuyến khích xuất khẩu, kiềm chế nhập siêu. Đáng chú ý, Nghị Quyết 11 yêu cầu các bộ ngành liên quan đưa ra những biện pháp cụ thể nhằm giải quyết vấn đề thâm hụt thương mại do nhập siêu.

Một tháng sau khi Nghị Quyết 11 ra đời, ngày 25.3.2011, Bộ Công Thương đã ban hành Quyết định số 1380/QĐ-BCT công bố danh mục các mặt hàng không khuyến khích nhập khẩu (Danh mục không khuyến khích nhập khẩu). Danh mục này đưa ra 297 nhóm hàng hóa gồm các sản phẩm gia dụng, thực phẩm, điện thoại di động, xe hơi..., với 3.724 dòng thuế.

Tuy nhiên, Quyết định 1380 không nêu ra các biện pháp có thể áp dụng để không khuyến khích nhập khẩu. Vì thế, đã có nhiều quan ngại và nhiều câu hỏi được đặt ra. Câu trả lời cuối cùng có vẻ đã đến từ Bộ Tài chính và tỏ ra tích cực hơn cả mong đợi. Ngày 5.4.2011, tức là 10 ngày sau ngày ra Quyết định 1380, Bộ Tài chính đã có Công văn số 4388/BTC-CST về dự kiến điều chỉnh thuế suất thuế nhập khẩu ưu đãi đối với một số mặt hàng.

Theo Bộ Tài chính, trong số 3.724 dòng thuế trong “Danh mục không khuyến khích nhập khẩu”, có đến 3.406 dòng có mức thuế suất hiện hành bằng với mức cam kết trần WTO 2011 nên không thể nâng lên cao hơn.

Với 149 dòng thuế thấp hơn từ 1 - 3 điểm phần trăm so với mức cam kết trần WTO 2011, Bộ cũng quyết định không điều chỉnh tăng. Còn lại, với 169 dòng thuế có mức thuế suất thấp hơn mức cam kết trần WTO 2011 từ 4 điểm phần trăm trở lên Bộ cũng quyết định không tăng thuế suất đối với 158 dòng trong số đó. Cuối cùng, chỉ điều chỉnh tăng 10% thuế nhập khẩu đối với 11 dòng thuế còn lại trong 169 dòng thuế nêu trên.

Như vậy, trong số 3.724 dòng thuế của các sản phẩm rơi vào Danh mục thì đa số không phải chịu thuế suất cao hơn vì, theo Bộ Tài chính, đã vướng trần thuế suất cam kết với WTO. Quan sát các diễn biến trên có thể thấy sự thay đổi đáng kể trong việc hình thành các quyết định quản lý kinh tế của Việt Nam: không phá trần thuế suất đã cam kết, dù phải chịu sức ép giải quyết vấn đề thâm hụt thương mại.

Nhà làm chính sách cũng đã chọn không dùng các biện pháp hành chính như cấm hoặc tạm dừng nhập khẩu, hay hạn chế quyền nhập khẩu của thương nhân nước ngoài.

Để hạn chế nhập khẩu, dùng rào cản về thuế là cách tác động nhanh và hiệu quả nhất. Tuy nhiên, trong bối cảnh Việt Nam đã hội nhập và có những cam kết quốc tế về mở cửa thị trường, cắt giảm thuế quan, thì các cam kết đó đã được tôn trọng, thông qua cách điều hành thuế suất thuế nhập khẩu nói trên.

Rõ ràng chúng ta chẳng thể nào vui khi thấy lạm phát và thâm hụt thương mại vẫn tiếp diễn. Song, ở góc độ khác, đã thấy tín hiệu tốt đẹp: người làm chính sách nay đã nắm được và tuân thủ luật chơi trên sân chơi hội nhập, tôn trọng luật pháp quốc tế. Tinh thần tôn trọng pháp luật ấy không thay thế cho các nhóm biện pháp còn lại của Nghị quyết 11, đặc biệt là các biện pháp về chính sách quản lý tiền tệ và ngân hàng, các biện pháp nâng cao hiệu quả trong sản xuất quốc nội. Tuy nhiên, chính tinh thần tôn trọng pháp luật, tôn trọng cam kết quốc tế ấy là điểm khởi đầu và làm nền tảng tốt cho việc thực hiện các nhóm biện pháp kia, để gia cường nền kinh tế, thực thi các chính sách thương mại phù hợp, từ đó giải quyết một cách căn cơ vấn đề lạm phát và thâm hụt thương mại.

Nguồn: Tạp chí Nhịp cầu Đầu tư