Một số bất cập của Luật Phá sản năm 2004
Luật Phá sản được Quốc hội nước Cộng hoà XHCN Việt Nam thông qua ngày 15/6/2004, có hiệu lực thi hành kể từ ngày 15/10/2004 (“LPSDN”) và thay thế LPSDN năm 1993. Đây là cơ sở pháp lý nhằm tạo điều kiện cho ngành Tòa giải quyết hậu quả pháp lý của các doanh nghiệp, hợp tác xã lâm vào tình trạng phá sản. Tuy nhiên, khi áp dụng Luật Phá sản vào thực tiễn đã bộc lộ nhiều vướng mắc, bất cập, làm cho công tác giải quyết các việc phá sản gặp nhiều khó khăn, tốn nhiều thời gian và gây thiệt hại tài sản của doanh nghiệp mở thủ tục phá sản. Tuy nhiên, trong phạm vi bài viết này, tôi chỉ đề cập đến vấn đề xác định tiêu chí doanh nghiệp lâm vào tình trạng phá sản và việc nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản.

1. Về tiêu chí xác định doanh nghiệp lâm vào tình trạng phá sản:

Điều 3, LPSDN năm 2004 quy định: “Doanh nghiệp, hợp tác xã không có khả năng thanh toán được các khoản nợ đến hạn khi chủ nợ có yêu cầu thì coi là lâm vào tình trạng phá sản”. Đây là điều luật rất quan trọng để xác định Doanh nghiệp, Hợp tác xã rơi vào tình trạng phá sản, hay đã đủ điều kiện phá sản chưa. Tuy nhiên, điều luật này chỉ mang tính chất chung chung, thiếu chặt chẽ, chỉ là định tính, không phản ánh đúng thực trạng tình hình tài chính của doanh nghiệp khi bị lâm vào tình trạng phá sản. Bởi, không phải cứ có nợ quá hạn là Doanh nghiệp, Hợp tác xã coi là lâm vào tình trạng phá sản được. Thực tế cho thấy, bất kỳ Doanh nghiệp, Hợp tác xã nào cũng vừa là con nợ, lại vừa là chủ nợ, thậm chí Doanh nghiệp, Hợp tác xã bị yêu cầu tuyên bố phá sản cũng có thể coi là chủ nợ với số tiền lớn hơn số nợ quá hạn mà Doanh nghiệp, Hợp tác xã phải trả cho các chủ nợ yêu cầu tuyên bố phá sản.

Mặt khác, đứng ở góc độ kinh tế và thực tiễn có thể thấy, Luật PSDN năm 2004 đã đánh đồng khái niệm Doanh nghiệp, Hợp tác xã mất khả năng thanh toán nợ đến hạn với khái niệm Doanh nghiệp, Hợp tác xã lâm vào tình trạng phá sản. Như ở LPSDN năm 1993 và Nghị định số 189/CP ngày 23/12/1994 về việc Hướng dẫn thi hành Luật phá sản doanh nghiệp năm 1993 (“Nghị định 189”) có quy định cụ thể hai khái niệm này như sau:

Điều 2 LPSDN năm 1993 quy định: Doanh nghiệp đang lâm vào tình trạng phá sản là doanh nghiệp gặp khó khăn hoặc bị thua lỗ trong hoạt động kinh doanh sau khi đã áp dụng các biện pháp tài chính cần thiết mà vẫn mất khả năng thanh toán nợ đến hạn.

Điều 3 của Nghị định 189 có quy định:

1- Doanh nghiệp được coi là có dấu hiệu lâm vào tình trạng phá sản nói tại Điều 2 của Luật Phá sản doanh nghiệp, nếu kinh doanh bị thua lỗ trong hai năm liên tiếp đến mức không trả được các khoản nợ đến hạn, không trả đủ lương cho người lao động theo thoả ước lao động và hợp đồng lao động trong ba tháng liên tiếp.

2- Khi xuất hiện dấu hiệu lâm vào tình trạng phá sản như nói tại Khoản 1 Điều này, doanh nghiệp phải áp dụng các biện pháp tài chính cần thiết như sau để khắc phục tình trạng mất khả năng thanh toán nợ đến hạn:

a) Có phương án tổ chức lại sản xuất kinh doanh, quản lý chặt chẽ các khoản chi phí, tìm kiếm thị trường tiêu thụ sản phẩm;

b) Có biện pháp xử lý hàng hoá, sản phẩm, vật tư tồn đọng;

c) Thu hồi các khoản nợ và tài sản bị chiếm dụng;

d) Thương lượng với các chủ nợ để hoãn nợ, mua nợ, bảo lãnh nợ, giảm, xoá nợ;

đ) Tìm kiếm các khoản tài trợ và các khoản vay để trang trải các khoản nợ đến hạn và đầu tư đổi mới công nghệ.

3- Sau khi đã áp dụng các biện pháp tài chính cần thiết nói tại Khoản 2 Điều này, mà vẫn gặp khó khăn, không khắc phục được tình trạng mất khả năng thanh toán nợ đến hạn thì doanh nghiệp đã lâm vào tình trạng phá sản và phải được xử lý theo quy định của Luật Phá sản doanh nghiệp, Nghị định này.

Từ thực tế việc triển khai và thực hiện LPSDN năm 2004 cho thấy, vì quy định chỉ mang tính chất chung chung, thiếu chặt chẽ và không có tiêu chí cụ thể nào để hướng dẫn, nên dễ dẫn đến việc một số doanh nghiệp khi căn cứ vào điều luật này đã “lạm dụng” quyền nộp đơn nhằm gây ảnh hưởng xấu đến danh dự, uy tín, hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp khác. Trong nhiều trường hợp, các chủ nợ thay vì khởi kiện vụ án dân sự, kinh tế đòi nợ, họ lại làm đơn yêu cầu tòa án mở thủ tục phá sản để đòi nợ (thậm chí với một khoản nợ rất nhỏ) và tòa án không thể từ chối yêu cầu này. Điều này không những không giúp cải thiện số vụ việc phá sản màcòn làm cho doanh nghiệp thêm “cảnh giác” với luật phá sản.

2. Vấn đề mở thủ tục phá sản:

Đối với vấn đề mở thủ tục phá sản theo LPSDN năm 2004 thì chỉ có doanh nghiệp ngoài quốc doanh (thường gọi là những công ty tư nhân) mới bị ràng buộc về nghĩa vụ yêu cầu mở thủ tục phá sản, còn đối với doanh nghiệp Nhà nước dường như nghĩa vụ ấy lại được ưu tiên xem đây là quyền lợi.

Đối với loại hình doanh nghiệp Nhà nước, việc nộp đơn yêu cầu mở thủ tục PSDN còn phụ thuộc vào những chủ sở hữu khác, chứ không đơn thuần chỉ là quyết định của chủ Doanh nghiệp, tức là phải được sự đồng ý và có ý kiến bằng văn bản của Bộ hoặc UBND cấp Tỉnh hoặc những cơ quan chủ quan của doanh nghiệp. Bản thân chủ doanh nghiệp, nếu có muốn nộp đơn yêu cầu mở thủ tục PSDN mà chưa có ý kiến đồng ý của cơ quan quản lý hoặc cơ quan chủ quản cũng không thể nộp đơn được.

Việc trì hoãn hay kéo dài việc nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản từ phía doanh nghiệp nhà nước, sẽ gây ảnh hưởng rất nhiều đến nguồn vốn đầu tư của nhà nước. Rõ ràng, doanh nghiệp kinh doanh kém hiệu quả, thua lỗ, nợ đến hạn không thanh toán được, nợ lương, nợ Bảo hiểm xã hội kéo dài… mà không tuyên bố phá sản, lại tiếp tục kéo dài, duy trì bộ máy như vậy sẽ ảnh hưởng đến nguồn vốn/kinh phí duy trì hoạt động. Tình trạng này diễn ra rất phổ biến với loại hình Doanh nghiệp Nhà nước. Bản thân chủ doanh nghiệp họ thường “né tránh” trách nhiệm bằng cách xin về hưu sớm, hoặc chờ sự điều chuyển đến nơi công tác mới, những người khác thay thế họ sẽ là những người giải quyết hậu quả.

Đối với doanh nghiệp ngoài quốc doanh, mối ràng buộc phải yêu cầu mở thủ tục phá sản là tương đối lớn, tuy nhiên, khi đi vào thực hiện thì cũng không kém phần bất cập và vướng mắc.

Điều 13 LPSDN năm 2004 có quy định: “Khi nhận thấy doanh nghiệp, hợp tác xã lâm vào tình trạng phá sản thì các chủ nợ không có bảo đảm hoặc có bảo đảm một phần đều có quyền nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản đối với doanh nghiệp, hợp tác xã đó”. Như vậy, chủ nợ có bảo đảm không được quyền nộp đơn yêu cầu tuyên bố phá sản, quy định này là hòan toàn không hợp lý, bởi thủ tục phá sản là một phương thức đòi nợ đặc biệt. Việc không cho chủ nợ có bảo đảm nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản đã làm mất đi quyền lựa chọn phương thức đòi nợ hữu hiệu này của các chủ nợ có bảo đảm.

Điều 14 LPSDN năm 2004 quy định: “Trong trường hợp doanh nghiệp, hợp tác xã không trả được lương, các khoản nợ khác cho người lao động và nhận thấy doanh nghiệp, hợp tác xã lâm vào tình trạng phá sản thì người lao động cử người đại diện hoặc thông qua đại diện công đoàn nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản đối với doanh nghiệp, hợp tác xã đó”. Đối với người người lao động, trong trường hợp Doanh nghiệp, Hợp tác xã nợ lương, nợ Bảo hiểm xã hội và các khoản nợ khác của người lao động, lúc này người lao động được xem như là chủ nợ không có bảo đảm và có các quyền, nghĩa vụ như chủ nợ không bảo đảm. Nhưng LPSDN năm 2004 lại quy định người lao động không được tự nộp đơn mà phải phải cử người đại diện hoặc thông qua đại diện công đoàn để nộp đơn. Việc cử người đại diện cho người lao động được quy định trong LPSDN năm 2004 rất phức tạp, khó thực thi và gây ra nhiều phiền nhiều cho người lao động. Do đó, LPSDN năm 2004 vô hình chung đã hạn chế và gần như vô hiệu hóa quyền nộp đơn của người lao động trong doanh nghiệp.

Điều 15 và Điều 19 LPSDN 2004 có quy định về nghĩa vụ, trách nhiệm của người nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản. Nếu người nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản do không khách quan gây ảnh hưởng xấu đến danh dự, uy tín, hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, HTX hoặc có sự gian dối trong việc yêu cầu mở thủ tục phá sản thì tuỳ theo tính chất, mức độ mà bị xử lý kỷ luật, xử phạt hành chính hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự; nếu gây thiệt hại thì phải bồi thường theo quy định của pháp luật. Tuy nhiên, quy định này chưa rõ ràng vì không có tiêu chí cụ thể để xác định, thế nào là không khách quan hoặc như thế nào là gây ảnh hưởng xấu đến danh dự, uy tín của Doanh nghiệp, Hợp tác xá bị yêu cầu mở thủ tục phá sản. Thực tế chưa có văn bản quy định những chế tài cụ thể để xử lý những hành vi nêu trên, và chính vì vậy, cũng ảnh hưởng đến tính hiệu lực của Luật Phá sản trong thực tiễn.

Ngay từ việc xác định tiêu chí của Doanh nghiệp, Hợp tác xã lâm vào tình trạng phá sản và việc yêu cầu mở thủ tục phá sản đã có rất nhiều bất cập và vứơng mắc như vậy, làm ảnh hưởng rất nhiều vào quá trình thực tiễn áp dụng của LPSDN năm 2004. Dẫn đến tình trạng sau gần 10 năm thực thi LPSDN năm 2004, nhiều người đã phải thốt lên rằng “Luật phá sản năm 2004 lại tiếp tục phá sản”.

3. Thụ lý đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản:

Điều 23 LPSDN có quy định: “Trường hợp người nộp đơn không phải là chủ doanh nghiệp hoặc đại diện hợp pháp của doanh nghiệp, hợp tác xã lâm vào tình trạng phá sản thì trong thời hạn năm ngày, kể từ ngày thụ lý đơn, Toà án phải thông báo cho doanh nghiệp, hợp tác xã đó biết”.

Theo quy định này, trường hợp người nộp đơn không phải là chủ doanh nghiệp hoặc đại diện hợp pháp của doanh nghiệp, có thể là các chủ nợ, thì trong thời hạn năm ngày, kể từ ngày thụ lý đơn, Toà án phải thông báo cho doanh nghiệp, hợp tác xã đó biết.

Trên thực tế, việc quản lý và kiểm tra về địa điểm hoạt động kinh doanh ở Việt Nam còn lỏng lẻo, dẫn đến tình trạng nhiều doanh nghiệp đăng ký hoạt động được một thời gian, sau đó thì “mất tích”, tức là khi chuyển địa điểm kinh doanh, doanh nghiệp, hợp tác xã cũng không thông báo với cơ quan thuế trực tiếp quản lý được biết. Chính vì vậy, khi có chủ nợ làm đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản đối với doanh nghiệp đó thì Toà án không xác định được trụ sở doanh nghiệp ở đâu. Trong những trường hợp này, vừa rất khó xác định thẩm quyền giải quyết yêu cầu mở thủ tục phá sản của Toà án và vừa không đủ điều kiện để Toà án thụ lý đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản.

Có những trường hợp Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên, Chủ sở hữu là người nước ngoài, sau khi kinh doanh thua lỗ bỏ về nước, thì Tòa án cũng rất khó để xác định được địa chỉ của Chủ sở hữu ở nước ngoài, để gửi thông báo. Hoặc giả sử, những chủ sở hữu là người nước ngoài có nhận được thông báo của Tòa án thì họ cũng không đến Việt Nam để giải quyết. Thậm chí, có những trường hợp thực tế đã xảy ra, đó là chủ sở hữu là người Nước ngoài, sau khi nhận được thông báo của Tóa án, họ đồng ý đến Việt Nam giải quyết mọi vấn đề liên quan, những với điều kiện là phía Việt Nam phải bảo đảm cho họ xuất cảnh (rời khỏi Việt Nam) bất cứ lúc nào họ muốn.

Đối với những trường hợp như trên, Tòa án thường rất khó để giải quyết, trong khi với  sức ép của người lao động và của các chủ nợ đòi hỏi Tòa án phải mở thủ tục tuyên bố phá sản doanh nghiệp để bảo đảm quyền và lợi ích của họ. Có nhiều Tòa án đã áp dụng điểm 5 Điều 24 Luật Phá sản để trả lại đơn. Thực ra, đây chỉ là biện pháp tình thế, nhưng việc này gây rất nhiều khó khăn cho các chủ nợ, đặc biệt là Ban quản lý các khu công nghiệp, khu chế xuất, khi mà diện tích nhà xưởng bị bỏ không, người thuê không sử dụng nhưng không thể thu hồi cho người khác thuê. Công nhân không được trả nợ lương, Ban quản lý các khu công nghiệp, khu chế xuất vẫn phải thuê người bảo quản trông nom tài sản của doanh nghiệp.

4. Xác định mở hay không mở thủ tục phá sản:

Khoản 1, điều 28, LPSDN quy định: “Trong thời hạn ba mươi ngày, kể từ ngày thụ lý đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản, Toà án phải ra quyết định mở hoặc không mở thủ tục phá sản”.

Theo quy định thì Tòa án chỉ có thời hạn là ba mươi ngày để xác định việc mở thủ tục phá sản hay không. Thực tế, khi hồ sơ đến tay Thẩm Phán thì thời hạn này chỉ còn khoảng hơn hai mươi ngày để xem hồ sơ và ra quyết định. Khoảng thời gian này thường không đủ để Thẩm phán xem xét hồ sơ, triệu tập các phiên họp cần thiết với sự tham gia của chủ doanh nghiệp, các cá nhân và tổ chức khác có liên quan để xem xét những bằng chứng chứng minh doanh nghiệp thật sự lâm vào tình trạng phá sản.

5. Việc thành lập Tổ quản lý, thanh lý tài sản:

Điều 9, LPSDN quy định: “Đồng thời với việc ra quyết định mở thủ tục phá sản, Thẩm phán ra quyết định thành lập Tổ quản lý, thanh lý tài sản để làm nhiệm vụ quản lý, thanh lý tài sản của doanh nghiệp, hợp tác xã lâm vào tình trạng phá sản”.

Mục 5.1, chương I của Nghị quyết 03/2005/NQ-HĐTP ngày 28/4/2005 của Toà án nhân dân tối cao thì quy định như sau: “Sau khi thụ lý đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản và trong quá trình nghiên cứu hồ sơ việc phá sản, Thẩm phán phải có công văn gửi cá nhân, cơ quan, tổ chức quy định tại khoản 2 Điều 9 của LPS yêu cầu họ cử người tham gia Tổ quản lý, thanh lý tài sản. Trong công văn phải ghi rõ về yêu cầu chuyên môn nghiệp vụ, tính chất của doanh nghiệp, hợp tác xã bị yêu cầu mở thủ tục phá sản và yêu cầu cử người đại diện cụ thể (họ tên, tuổi, chức vụ, chuyên môn nghiệp vụ) tham gia Tổ quản lý, thanh lý tài sản.Sau khi nhận được công văn về việc cử người tham gia Tổ quản lý, thanh lý tài sản, nếu thấy người được cử không đạt yêu cầu về chuyên môn, nghiệp vụ, thì Thẩm phán yêu cầu cá nhân, cơ quan, tổ chức đó cử người khác thay thế”.

Điều 16 của Nghị định 67/2006/NĐ-CP ngày 11/7/2006 quy định: “Đồng thời với việc ra quyết định mở thủ tục phá sản, Thẩm phán gửi văn bản đề nghị cử người tham gia Tổ quản lý, thanh lý tài sản tới cơ quan, tổ chức, cá nhân liên quan quy định tại Điều 15 của Nghị định này. Trong thời hạn 05 (năm) ngày làm việc, kể từ ngày nhận được văn bản của Thẩm phán, các cơ quan, tổ chức, cá nhân liên quan có trách nhiệm cử người tham gia Tổ quản lý, thanh lý tài sản”.

Từ các quy định trên, cho thấy có sự mâu thuẫn giữa các văn bản hướng dẫn về việc thành lập Tổ quản lý, thanh lý tài sản.

Trên thực tế, việc phối hợp giữa Toà án và các cơ quan, tổ chức, cá nhân liên quan thường bị chậm trễ do không cử được người tham gia Tổ quản lý, thanh lý tài sản. Tình trạng này đã dẫn đến việc không kịp thời thành lập Tổ quản lý, thanh lý tài sản nên đã tạo ra lỗ hổng pháp lý cho doanh nghiệp tẩu tán tài sản.

6. Vấn đề xử lý tài sản của doanh nghiệp yêu cầu tuyên bố phá sản

Đối với tài sản là quyền sử dụng đất của các doanh nghiệp được Nhà nước giao đất không thu tiền sử dụng đất, giao đất có thu tiền sử dụng đất có nguồn gốc từ ngân sách nhà nước hoặc cho thuê đất thu tiền thuê đất hàng năm, đa số doanh nghiệp được Nhà nước cho thuê đất để xây dựng nhà xưởng, văn phòng làm việc nhưng khi doanh nghiệp tiến hành giải quyết phá sản thường bị Nhà nước ra quyết định thu hồi đất theo quy định tại khoản 2 Điều 38 Luật đất đai năm 2003. Vì vậy, khi tiến hành bán đấu giá tài sản của doanh nghiệp thì chỉ được bán tài sản trên đất, nên số tài sản này thường không bán được dẫn đến thiệt hại cho doanh nghiệp, hợp tác xã bị phá sản và các chủ nợ. Mặt khác, việc thanh lý tài sản của doanh nghiệp bị tuyên bố phá sản phải qua nhiều thủ tục, mất nhiều thời gian, tài sản để lâu dẫn đến giảm rất nhiều hoặc không còn giá trị sử dụng, trong khi nhu cầu mua có nhưng người mua không mua được.

Về việc thanh lý, thu hồi khoản nợ của doanh nghiệp, hợp tác xã, cá nhân nợ doanh nghiệp bị tuyên bố phá sản (“con nợ”) hiện chưa có quy định cụ thể.  Do đó, có nhiều trường hợp phía con nợ gây khó khăn không chịu trả, kéo dài thời gian thu hồi nợ của doanh nghiệp. Nhưng tổ thanh lý tài sản cũng không có biện pháp gì khác để tiến hành thu khoản nợ này.

Từ những bất cập của LPSDN nêu trên, thì trong thời gian tới, cần tiếp tục ban hành, sửa đổi, bổ sung các văn bản hướng dẫn thực hiện Luật Phá sản năm 2004, nhằm hoàn thiện Luật và đưa vào thực tiễn áp dụng./.


Luật sư Hà Thị Thanh - Công ty Luật TNHH Song Thanh
Nguồn:www.liendoanluatsu.org.vn