Thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính trong Dự án Luật Xử lý vi phạm hành chính
Xử phạt vi phạm hành chính (XPVPHC) là biện pháp chế tài của Nhà nước áp dụng đối với cá nhân, cơ quan, tổ chức thực hiện hành vi vi phạm hành chính (VPHC) nhằm lập lại trật tự quản lý hành chính bị xâm hại, đồng thời ngăn chặn, phòng ngừa các hành vi vi phạm pháp luật hành chính. Việc xử phạt được thực hiện bởi những người có thẩm quyền XPVPHC. Hiện nay, Dự án Luật XLVPHC - nhằm thay thế Pháp lệnh XLVPHC được ban hành năm 1989, từng bước được hoàn thiện qua 3 lần sửa đổi, bổ sung (1995, 2002, 2008) - đang được chỉnh lý trên cơ sở nghiên cứu tiếp thu các ý kiến góp ý. Dự kiến, Dự án Luật này sẽ được trình Quốc hội cho ý kiến trong kỳ họp thứ 2, Quốc hội khóa XIII.

Quy định về thẩm quyền XPVPHC là một trong những nội dung quan trọng nhất của Luật XLVPHC trên cơ sở kế thừa Pháp lệnh hiện hành, đồng thời có sự cập nhật, sửa đổi, bổ sung để đáp ứng nhu cầu thực tiễn. Bài viết cung cấp thông tin về các quy định cụ thể liên quan đến thẩm quyền XPVPHC trong dự án Luật XLVPHC; đồng thời có sự phân tích, đánh giá để làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn của các quy định này.

I. Cơ quan, người có thẩm quyền xử phạt

1. Hiện nay, thẩm quyền XPVPHC được quy định tại Chương IV Pháp lệnh XLVPHC năm 2002 (sửa đổi, bổ sung năm 2008). Theo Pháp lệnh, có 75 chức danh có thẩm quyền XPVPHC gồm các cơ quan có thẩm quyền chung là Ủy ban nhân dân (UBND) các cấp và các chức danh/cơ quan trong từng ngành, lĩnh vực cụ thể như: công an nhân dân, bộ đội biên phòng, cảnh sát biển, hải quan, kiểm lâm, cơ quan thuế, quản lý thị trường, thanh tra chuyên ngành, cơ quan thi hành án dân sự, giám đốc cảng vụ hàng hải, giám đốc cảng vụ đường thủy nội địa, giám đốc cảng vụ hàng không và thẩm phán chủ tọa phiên tòa.

Năm 2008, Pháp lệnh năm 2002 được sửa đổi, bổ sung, bên cạnh việc giữ nguyên các quy định về cơ quan, người có thẩm quyền xử phạt, đã sửa đổi hầu hết các điều của Chương IV theo hướng tăng thẩm quyền xử phạt tiền cho người có thẩm quyền xử phạt; đồng thời, bổ sung một số cơ quan, đơn vị và những người có thẩm quyền xử phạt để phù hợp với một số luật, pháp lệnh mới được thông qua và thực tiễn đấu tranh phòng, chống VPHC trong tình hình mới. Theo đó, Pháp lệnh năm 2008 đã bổ sung 4 điều (từ Điều 40a đến Điều 40d) vào Chương IV về thẩm quyền XLVPHC để quy định thẩm quyền của cơ quan thi hành án dân sự (Điều 40a), người đứng đầu cơ quan đại diện ngoại giao, cơ quan lãnh sự, cơ quan khác được ủy quyền thực hiện chức năng lãnh sự của Việt Nam ở nước ngoài, Cục trưởng Cục Quản lý lao động ngoài nước (Điều 40b), Chủ tịch Hội đồng cạnh tranh và Thủ trưởng Cơ quan quản lý cạnh tranh (Điều 40c), Ủy ban Chứng khoán (Điều 40d).

Như vậy, Pháp lệnh XLVPHC năm 2008 sửa đổi, bổ sung một số chức danh thuộc các cơ quan có thẩm quyền xử phạt; quy định thẩm quyền áp dụng các hình thức xử phạt chính, hình thức xử phạt bổ sung và các biện pháp khắc phục hậu quả do hành vi VPHC gây ra của một số chức danh thuộc các cơ quan quản lý nhà nước chuyên ngành, theo hướng tăng thẩm quyền xử phạt tiền, nhất là với người có thẩm quyền xử phạt ở cấp cơ sở theo tinh thần Điều 14 sửa đổi về mức phạt tiền tối đa trong các lĩnh vực quản lý nhà nước để giảm bớt tình trạng dồn việc lên cấp có thẩm quyền cao hơn để xử phạt, góp phần cải cách thủ tục hành chính, đồng thời tạo điều kiện thuận lợi cho người vi phạm trong việc nộp phạt.

2. Trên cơ sở kế thừa hầu hết các chức danh có thẩm quyền xử phạt đã được quy định trong Pháp lệnh năm 20081, nội dung về thẩm quyền xử phạt trong Dự án Luật XLVPHC vẫn được quy định thành một chương riêng, từ Điều 40 đến Điều 57 của Chương II. Bên cạnh đó, Dự án Luật đã thay đổi tên gọi và bổ sung một số chức danh, đặc biệt là nâng thẩm quyền phạt tiền của tất cả các chức danh để phù hợp với mức phạt tối đa trong các lĩnh vực tại Điều 24 Dự án Luật, cụ thể là:

2.1. Thay đổi tên gọi và bổ sung một số chức danh có thẩm quyền xử phạt để phù hợp với quy định pháp luật hiện hành và đáp ứng yêu cầu thực tiễn:

- Đối với ngành Công an nhân dân: thay đổi và bổ sung một số chức danh như Trưởng phòng Cảnh sát phản ứng nhanh, Trưởng phòng Cảnh sát bảo vệ và cơ động, Trưởng phòng Cảnh sát phòng cháy, chữa cháy và cứu hộ, cứu nạn, Trưởng phòng Cảnh sát phòng cháy, chữa cháy trên sông, Trưởng phòng Cảnh sát phòng cháy, chữa cháy các quận, huyện thuộc Sở Cảnh sát phòng cháy và chữa cháy (Khoản 5 Điều 41), Cục trưởng Cục Cảnh sát phòng cháy, chữa cháy và cứu hộ, cứu nạn, Cục trưởng Cục Cảnh sát bảo vệ, Cục trưởng Cục theo dõi thi hành án hình sự và hỗ trợ tư pháp, Cục trưởng Cục Cảnh sát phòng chống tội phạm về môi trường.

- Đối với ngành Hải quan và ngành Thuế: Chức danh nhân viên thuế vụ, nhân viên hải quan đổi thành công chức thuế, công chức hải quan để bảo đảm nguyên tắc chỉ công chức mới là người được Nhà nước trao cho thẩm quyền xử phạt theo quy định pháp luật. Bên cạnh đó, bổ sung một số chức danh như Đội trưởng Đội kiểm soát bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ thuộc Cục Điều tra chống buôn lậu, Tổng cục Hải quan.

- Đối với một số Cảng vụ thuộc ngành Giao thông vận tải: Bổ sung thẩm quyền của Trưởng đại diện Cảng vụ hàng hải, Cảng vụ hàng không, Cảng vụ đường thủy nội địa bên cạnh chức danh Giám đốc các cảng trên để đáp ứng yêu cầu thực tiễn vì tại các địa điểm này, số lượng vụ vi phạm rất nhiều nhưng không phải lúc nào Giám đốc Cảng vụ cũng xử phạt được. Việc bổ sung thêm chức danh Trưởng đại diện Cảng vụ có thẩm quyền xử phạt sẽ góp phần tăng cường an ninh trật tự nói chung, cảng vụ nói riêng.

- Đối với lực lượng Cảnh sát biển: Bổ sung Trạm trưởng Trạm Cảnh sát biển, Trưởng phòng Pháp luật vùng Cảnh sát biển.

- Đối với cơ quan Thi hành án dân sự: Trưởng cơ quan Thi hành án dân sự cấp huyện đổi thành Chi cục trưởng Chi cục Thi hành án dân sự, Trưởng cơ quan Thi hành án dân sự cấp tỉnh đổi thành Cục trưởng Cục Thi hành án dân sự, Trưởng cơ quan Thi hành án dân sự cấp quân khu đổi thành Trưởng phòng Thi hành án cấp quân khu.

- Đối với ngành Tòa án: Bổ sung chức danh Chánh tòa Phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao, thay đổi tên gọi một số chức danh như Chánh tòa chuyên trách Tòa án nhân dân cấp tỉnh, Chánh tòa chuyên trách Tòa án nhân dân tối cao để phù hợp với Luật Tổ chức Tòa án nhân dân.

- Đối với cơ quan Thanh tra: Luật Thanh tra năm 2010 đã quy định cơ quan và người được giao nhiệm vụ thanh tra chuyên ngành. Theo đó, Dự án Luật XLVPHC bổ sung thẩm quyền xử phạt của chức danh Thủ trưởng cơ quan thuộc Sở hoặc tương đương được giao chức năng thanh tra chuyên ngành, Thủ trưởng cơ quan thuộc bộ, cơ quan ngang bộ hoặc tương đương được giao thực hiện chức năng thanh tra chuyên ngành và Trưởng đoàn thanh tra chuyên ngành cấp bộ và cấp sở. Trong trường hợp nhiệm vụ thanh tra chuyên ngành được giao cho cá nhân, tổ chức của cơ quan quản lý nhà nước chuyên ngành thực hiện, thì chỉ cá nhân, tổ chức đó mới có thẩm quyền xử phạt như các chức danh của thanh tra theo từng cấp.

2.2. Bổ sung thẩm quyền xử phạt cho từng chức danh tương ứng với hình thức xử phạt và biện pháp khắc phục hậu quả mới được quy định trong Dự án Luật

Tương tự như Pháp lệnh năm 2008, thẩm quyền XPVPHC của các chức danh quy định tại Dự án Luật cũng được xác định dựa trên thẩm quyền quyết định áp dụng hình thức xử phạt chính, hình thức xử phạt bổ sung, biện pháp khắc phục hậu quả đối với từng hành vi vi phạm. Cụ thể, Dự án Luật XLVPHC quy định mới một số hình thức xử phạt và biện pháp khắc phục hậu quả như: buộc lao động phục vụ cộng đồng; buộc học tập các quy định pháp luật liên quan đến vi phạm; buộc cải chính thông tin sai sự thật hoặc gây nhầm lẫn; buộc loại bỏ yếu tố vi phạm trên hàng hoá, phương tiện, vật phẩm; buộc thu hồi sản phẩm, hàng hóa không bảo đảm chất lượng; buộc nộp lại số lợi bất hợp pháp có được do thực hiện hành vi vi phạm hoặc buộc nộp lại số tiền bằng trị giá tang vật, phương tiện đã bị tiêu thụ, tẩu tán, tiêu hủy trái với quy định của pháp luật.

Cùng với việc quy định các hình thức xử phạt và biện pháp khắc phục hậu quả mới thì Dự án Luật cũng bổ sung thẩm quyền tương ứng đối với từng chức danh phù hợp với tính chất quản lý nhà nước của ngành, lĩnh vực đó.

2.3. Quy định thẩm quyền xử phạt tiền của từng chức danh theo tỷ lệ phần trăm (%) đồng thời nâng mức phạt tiền đối với tất cả các chức danh có thẩm quyền xử phạt:

Dự án Luật XLVPHC quy định thẩm quyền xử phạt của các chức danh trên cơ sở kế thừa có phát triển các quy định của Pháp lệnh XLVPHC hiện hành theo hướng tạo “không gian” linh hoạt đến mức có thể cho Chính phủ trong việc quy định về thẩm quyền và mức xử phạt tiền phù hợp với yêu cầu của thực tiễn. Theo tinh thần đó, đối với thẩm quyền phạt tiền thì Dự án Luật quy định thẩm quyền của từng chức danh theo tỷ lệ phần trăm (%) so với các mức phạt tối đa quy định cho từng lĩnh vực, nhóm, loại hành vi đã được quy định trong Điều 24 Dự án Luật và có khống chế một mức trần tối đa về thẩm quyền phạt tiền đối với từng chức danh. Quy định như vậy để làm cơ sở cho Chính phủ tiếp tục quy định chi tiết, cụ thể thẩm quyền xử phạt của từng chức danh trong các nghị định XPVPHC theo các nhóm, loại hành vi được phân chia theo các lĩnh vực quản lý nhà nước được quy định trong Luật. Cách quy định này có ưu điểm là “tĩnh” về tỷ lệ phần trăm (%) nhưng lại “động” về các mức xử phạt tối đa cụ thể đối với từng chức danh theo từng loại, nhóm VPHC. Điều này thể hiện sự linh hoạt trong việc quy định thẩm quyền XPVPHC, nhưng vẫn bảo đảm khống chế mức phạt tiền tối đa đối với từng chức danh có thẩm quyền xử phạt. Trên cơ sở quy định này, Chính phủ sẽ quy định thẩm quyền xử phạt cụ thể, rõ ràng đối với từng chức danh trong các nghị định quy định xử phạt VPHC trong các lĩnh vực cụ thể. Quy định này vừa bảo đảm sự kiểm soát của Quốc hội đối với thẩm quyền XPVPHC, nhưng vẫn tạo sự linh hoạt cho Chính phủ trong việc quy định thẩm quyền xử phạt cụ thể cho từng chức danh có thẩm quyền xử phạt.

Việc quy định mức phạt tiền theo tỷ lệ phần trăm đối với từng chức danh cụ thể trong Dự án Luật được quy định theo các tiêu chí, điều kiện sau đây:

- Đối với các chức danh có thẩm quyền xử phạt cấp cơ sở là chiến sĩ, nhân viên, thanh tra viên, mức phạt được quy định từ 1% đến 5% mức phạt tiền tối đa trong các lĩnh vực hoặc nhóm hành vi tương ứng quy định tại Điều 24.

- Tùy theo cơ cấu, tổ chức của từng cơ quan/lực lượng có thẩm quyền xử phạt, mức phạt theo tỷ lệ phần trăm được chia thành các mức khác nhau từ 10% đến 50% tùy theo cấp quản lý và số lượng các chức danh có thẩm quyền xử phạt trong cơ quan/lực lượng đó. Các cơ quan/lực lượng có nhiều chức danh, nhiều cấp có thẩm quyền xử phạt như công an nhân dân, quản lý thị trường, tỷ lệ % được chia thành các mức 2%, 5%, 10%, 20%, 50% và mức tối đa, nhưng các cơ quan/lực lượng có ít cấp có thẩm quyền xử phạt như thanh tra, tỷ lệ % chỉ được quy định thành ba mức: 5%, 50% và mức tối đa.  

- Mức phạt của người có thẩm quyền xử phạt liền kề với người có thẩm quyền phạt đến mức tối đa trong từng lĩnh vực quản lý nhà nước được quy định là 50% mức phạt tối đa của lĩnh vực đó.

- Thẩm quyền xử phạt tiền của từng chức danh trong từng lĩnh vực quản lý nhà nước cũng được quy định dựa trên chức năng, nhiệm vụ quản lý nhà nước của các cơ quan đó. Dự án quy định mức phạt tiền của các chức danh có thẩm quyền xử phạt được xác định theo “các lĩnh vực tương ứng quy định tại Điều 24 của Luật” đối với các cơ quan có thẩm quyền xử phạt chung (UBND các cấp, Công an nhân dân, Thanh tra…) hoặc các cơ quan thực hiện chức năng quản lý đa ngành, đa lĩnh vực. Đối với các cơ quan quản lý chuyên ngành (thuế, hải quan, kiểm lâm…), mức phạt tiền được quy định cụ thể là trong lĩnh vực quản lý nhà nước của các cơ quan, chức danh đó quy định tại Điều 24 Dự án Luật.

Tóm lại, trên cơ sở kế thừa cơ bản các quy định về thẩm quyền xử phạt của Pháp lệnh năm 2008, Dự án Luật XLVPHC cũng bổ sung nhiều quy định mới, quan trọng, đáp ứng yêu cầu quản lý nhà nước, phù hợp với thực tiễn. Với các quy định của Dự án Luật XLVPHC thì hầu hết các lĩnh vực quản lý nhà nước ở trong nước và ngoài nước đều có cơ quan, người có thẩm quyền XLVPHC. Các quy định của Dự án Luật vẫn bảo đảm nguyên tắc là không phải bất cứ chức danh nào, cơ quan nhà nước nào cũng có thẩm quyền XPVPHC, mà chỉ một số cơ quan quản lý nhà nước và một số cơ quan khác được luật quy định mới có thẩm quyền XPVPHC. Tuy nhiên, Luật XLVPHC với tính chất là luật khung, do đó, không phải bất cứ chức danh nào được Luật trao quyền cũng được ra quyết định xử phạt mọi hành vi VPHC ở tất cả các lĩnh vực quản lý nhà nước khác nhau, mà thẩm quyền này còn phụ thuộc vào hình thức, mức xử phạt đối với hành vi vi phạm cụ thể và từng lĩnh vực quản lý nhà nước cụ thể; tức là thẩm quyền xử phạt của mỗi chức danh cụ thể được xác định trong nghị định của Chính phủ quy định về XPVPHC đối với từng lĩnh vực hoặc hoạt động.

Một vấn đề cần chú ý về thẩm quyền xử phạt trong Dự án Luật XLVPHC là chỉ có thủ trưởng cơ quan và một số chức danh cụ thể thuộc cơ quan đó được Luật quy định mới có thẩm quyền xử phạt, cấp phó chỉ được tiến hành xử phạt trong trường hợp được thủ trưởng cơ quan ủy quyền bằng văn bản. Tuy nhiên, việc ủy quyền xử phạt phải thực hiện theo nội dung ủy quyền, trong phạm vi, thời hạn ủy quyền và phải chịu trách nhiệm về việc xử phạt của mình.

II. Vấn đề ủy quyền xử phạt và việc thay đổi thẩm quyền xử phạt tiền

1. Vấn đề ủy quyền xử phạt

Điều 57 Dự án Luật XLVPHC quy định ủy quyền XPVPHC trên cơ sở kế thừa Điều 41 Pháp lệnh hiện hành. Theo Điều 41, người có thẩm quyền xử phạt theo quy định pháp luật có thể ủy quyền cho cấp phó thực hiện thẩm quyền XPVPHC. Việc ủy quyền phải được thực hiện bằng văn bản. Cấp phó được ủy quyền phải chịu trách nhiệm về quyết định xử phạt của mình trước cấp trưởng và trước pháp luật. Trên cơ sở Điều 41, Điều 57 Dự án Luật có sự chỉnh sửa, bổ sung một số nội dung như: việc ủy quyền bằng văn bản có thể thực hiện thường xuyên hoặc theo vụ việc, trong đó phải xác định rõ phạm vi, nội dung, thời hạn ủy quyền.

Như vậy, Luật XLVPHC vẫn quy định những người có thẩm quyền XLVPHC là cấp trưởng của cơ quan có thẩm quyền xử phạt nhưng có thể ủy quyền cho cấp phó theo vụ việc hoặc ủy quyền thường xuyên. Đồng thời, quy định này đã làm rõ các nội dung liên quan đến ủy quyền xử phạt như: phạm vi, nội dung và thời hạn ủy quyền cũng như trách nhiệm của cấp phó khi được ủy quyền xử phạt. Quy định này về cơ bản giải quyết được bất cập hiện nay về thẩm quyền XLVPHC đồng thời đáp ứng được nguyên tắc trong việc phân công, tổ chức và hoạt động quản lý nhà nước.

2. Quy định việc thay đổi thẩm quyền xử phạt tiền

 Điều 56 Dự án Luật XLVPHC quy định thẩm quyền điều chỉnh mức phạt tiền tương ứng với sự điều chỉnh mức tiền phạt tối đa tại Điều 24 Dự án Luật và thay đổi tên gọi của chức danh có thẩm quyền XPVPHC. Đây là một quy định hoàn toàn mới của Dự án Luật XLVPHC so với Pháp lệnh hiện hành. Điều 56 được quy định cụ thể như sau:

- Căn cứ mức xử phạt tiền tối đa được điều chỉnh theo quy định tại khoản 20 Điều 24 của Luật này, Chính phủ điều chỉnh mức phạt tiền tương ứng đối với các chức danh có thẩm quyền xử phạt.

- Trường hợp các chức danh có thẩm quyền xử phạt quy định tại Luật này có sự thay đổi về tên gọi thì các chức danh đó có thẩm quyền xử phạt.

Mục đích lớn nhất của Điều 56 Dự án Luật là bảo đảm tính ổn định của Luật khi được ban hành, kể cả trong trường hợp thực tế cuộc sống có biến động lớn về giá cả và có sự thay đổi về tên gọi hoặc bổ sung các chức danh có thẩm quyền xử phạt trong tổ chức bộ máy nhà nước. Khi có sự biến động về giá cả, Quốc hội ban hành Nghị quyết xác định tỷ lệ biến động (theo %), trên cơ sở đó, Chính phủ điều chỉnh mức xử phạt tiền tối đa tương ứng trong các lĩnh vực được quy định tại Điều 24, còn các chức danh được mặc nhiên thay đổi về tên gọi khi đã được văn bản quy phạm pháp luật khác quy định cụ thể.

III. Tham khảo pháp luật quốc tế liên quan đến thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính

Quy định về thẩm quyền XPVPHC trong Dự án Luật XLVPHC chủ yếu kế thừa các quy định của Pháp lệnh hiện hành và cập nhật hệ thống tổ chức cơ quan nhà nước cũng như các chức danh/cơ quan có thẩm quyền xử phạt để quy định hệ thống người có thẩm quyền xử phạt. Tuy nhiên, để bảo đảm sự tương thích với pháp luật quốc tế, Dự án Luật cũng có tham khảo những chế định tương ứng của pháp luật quốc tế và pháp luật một số quốc gia có điều kiện, hoàn cảnh và hệ thống pháp luật tương tự Việt Nam.

 Bộ luật XLVPHC của Cộng hòa Liên bang Nga và Luật XLVPHC của Cộng hòa nhân dân Trung Quốc năm 1996 được lựa chọn nghiên cứu. Đây là hai văn bản của hai quốc gia quy định cụ thể về XPVPHC nói chung và thẩm quyền xử phạt nói riêng.

1. Bộ luật Xử lý vi phạm hành chính của Cộng hòa Liên bang Nga

Bộ luật được Duma quốc gia thông qua ngày 20/12/2001 và được Hội đồng Liên bang phê chuẩn ngày 26/12/2001. Bộ luật được chia thành 26 chương, 530 điều. Bộ luật quy định cụ thể từ nguyên tắc, thẩm quyền, thủ tục đến chế tài xử phạt trong các lĩnh vực. Thẩm quyền XPVPHC được quy định tại Chương XXIII, bao gồm các chức danh danh/cơ quan sau:

- Thẩm phán (các thẩm phán hòa giải ngoài tòa án) tại Điều 23.1.

- Các ủy ban chuyên trách về người chưa thành niên và bảo vệ quyền của người chưa thành niên.

- Các cơ quan hành pháp liên bang, các tổ chức, bộ phận cấu thành và cơ quan theo lãnh thổ của các cơ quan hành pháp liên bang cũng như các cơ quan nhà nước khác có thẩm quyền xử lý các vụ VPHC đó căn cứ vào chức năng và nhiệm vụ được quy định cho các cơ quan đó bởi các đạo luật liên bang hoặc các văn bản quy phạm pháp luật của Tổng thống Liên bang Nga hoặc Chính phủ liên bang Nga.

Đối với từng hành vi VPHC, Bộ luật quy định rõ thẩm quyền xử phạt của mỗi chức danh gắn với từng hành vi VPHC.

Những người đứng đầu các cơ quan công quyền có quyền xử lý các vụ VPHC bao gồm: (i) những người đứng đầu các cơ quan hành pháp liên bang tương ứng và các tổ chức của các cơ quan đó, cấp phó của những người này; (ii) những người đứng đầu các bộ phận cấu thành và cơ quan theo lãnh thổ của các cơ quan hành pháp liên bang tương ứng và cấp phó của họ; (iii) những người có chức vụ khác thực thi các chức năng kiểm tra hoặc giám sát phù hợp với các đạo luật liên bang hoặc các văn bản quy phạm pháp luật của Tổng thống Liên bang Nga hoặc Chính phủ Liên bang Nga.

Như vậy, số lượng các cơ quan/người có thẩm quyền xử phạt trong Bộ luật XLVPHC của Cộng hòa liên bang Nga rất lớn. Bộ luật này cũng quy định cấp phó có thẩm quyền xử phạt. Đối chiếu các quy định về thẩm quyền xử phạt của dự án Luật XLVPHC Việt Nam với Bộ luật XLVPHC của Cộng hòa Liên bang Nga cho thấy, hệ thống các cơ quan có thẩm quyền xử phạt của Việt Nam khá tương đồng với Liên bang Nga cả về số lượng cũng như các chức danh có thẩm quyền xử phạt. Tuy nhiên, theo quy định pháp luật Việt Nam thì cấp phó không phải là chức danh có thẩm quyền xử phạt đương nhiên như pháp luật Nga, mà chỉ được tiến hành xử phạt khi được cấp trưởng ủy quyền.

2. Luật Xử lý vi phạm hành chính của Trung Quốc

Luật XLVPHC của Trung Quốc được thông qua ngày 17/8/1996, có hiệu lực từ ngày 01/10/1996, có 8 chương và 64 điều. Các cơ quan tiến hành XPVPHC được quy định tại Chương III. Điều 15 của Luật quy định rõ “XPVPHC do các cơ quan quản lý về XPVPHC tiến hành xử phạt theo quy định của pháp luật”. Theo đó, các cơ quan/chức danh có thẩm quyền bao gồm: Hội đồng Nhà nước hoặc UBND cấp tỉnh, thành phố, vùng tự trị được Hội đồng Nhà nước ủy quyền có thể chỉ định một cơ quan hành chính thực hiện quyền xử phạt hành chính của các cơ quan hành chính có liên quan. Trường hợp hạn chế quyền tự do của công dân chỉ do cơ quan công an thực hiện.

Bên cạnh đó, Trung Quốc còn cho phép các cơ quan hành chính trong phạm vi quyền hạn luật định có thể ủy quyền cho các tổ chức có đủ điều kiện thực hiện việc XPVPHC. Cơ quan hành chính được ủy quyền phải chịu trách nhiệm về hành vi của mình trong việc thực hiện XPVPHC và hậu quả do các hành vi đó gây ra. Trong phạm vi được ủy quyền, các tổ chức được ủy quyền phải thực hiện việc xử phạt hành chính nhân danh cơ quan ủy quyền và không được ủy quyền lại cho bất cứ tổ chức, cá nhân nào khác thực hiện việc xử phạt hành chính. Theo đó, cơ quan được ủy quyền phải bảo đảm đủ các điều kiện sau: (i) là cơ quan được thành lập theo quy định của pháp luật, đang quản lý điều hành các hoạt động công cộng; (ii) có đội ngũ cán bộ có trình độ hiểu biết pháp luật, các quy định và hoạt động trong lĩnh vực liên quan; (iii) có khả năng tổ chức và tiến hành việc thanh tra, kiểm tra chuyên môn tương ứng hoặc xác định về hành vi vi phạm pháp luật khi cần thiết.

Việc xử phạt hành chính thuộc thẩm quyền của cơ quan hành chính có thẩm quyền tại địa phương hoặc do UBND cấp trên nơi xảy ra vi phạm xử lý, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác. Khi có tranh chấp về thẩm quyền xử phạt hành chính, vụ việc sẽ được chuyển lên cho cơ quan hành chính cấp trên xem xét, quyết định.

3. Kết luận

So sánh, đối chiếu quy định về XPVPHC của Liên bang Nga và Trung Quốc thấy rằng, việc XPVPHC trong Dự án Luật của Việt Nam và hai quốc gia nêu trên đều chủ yếu do các chức danh thuộc cơ quan hành chính nhà nước đảm nhiệm. Các chức danh này đều được quy định tên gọi và thẩm quyền xử phạt cụ thể trong các văn bản quy phạm pháp luật. Tuy nhiên, pháp luật của Trung Quốc có nét khác biệt về thẩm quyền xử phạt so với pháp luật Việt Nam. Đó là, các chức danh/cơ quan có thẩm quyền xử phạt của Trung Quốc, trong phạm vi quyền hạn của mình, có thể ủy quyền cho các tổ chức có đủ điều kiện luật định để tiến hành XPVPHC theo quy định. Các cơ quan hành chính không được giao cho các cá nhân, tổ chức khác không đủ điều kiện để tiến hành việc XPVPHC. Các tổ chức được giao quyền thực hiện việc xử phạt theo phạm vi được giao dưới danh nghĩa của cơ quan hành chính giao quyền và không được ủy quyền cho cá nhân, tổ chức khác để thực hiện việc XPVPHC và phải chịu trách nhiệm về kết quả của việc xử phạt do tổ chức được giao quyền tiến hành. Còn theo quy định của Dự án Luật XLVPHC Việt Nam, chỉ cấp trưởng mới có thẩm quyền xử phạt và có thể ủy quyền xử phạt bằng văn bản theo vụ việc hoặc thường xuyên cho cấp phó của mình.

Có thể thấy, thẩm quyền XPVPHC là một trong những quy định quan trọng có ảnh hưởng trực tiếp đến thực thi pháp luật về XLVPHC. Thực thi thẩm quyền XLVPHC công minh, đúng pháp luật, kịp thời không những bảo đảm trật tự quản lý hành chính nhà nước mà còn bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, tránh oan sai, khiếu nại, khiếu kiện.

Theo quy định của Pháp lệnh hiện hành và Dự án Luật XLVPHC, số lượng các chức danh có thẩm quyền XPVPHC rất lớn, theo hệ thống tổ chức bộ máy nhà nước từ trung ương tới địa phương; đều được quy định trong các văn bản có hiệu lực pháp luật cao nhất là luật và pháp lệnh. Đây là một điểm đặc thù của pháp luật hành chính Việt Nam nhằm bảo đảm trật tự quản lý hành chính, đồng thời nhằm tránh việc mở rộng thẩm quyền tùy tiện. Về cơ bản, quy định về thẩm quyền xử phạt của Dự án Luật XLVPHC được xây dựng trên cơ sở kế thừa Pháp lệnh XLVPHC hiện hành cũng như thực tiễn thi hành Pháp lệnh trong những năm vừa qua. Do vậy, về cơ bản, quy định này đáp ứng được yêu cầu quản lý nhà nước trong lĩnh vực XPVPHC. Mặc dù vậy, các quy định này, đặc biệt là những chức danh mới được bổ sung cũng như một số quy định khác có liên quan đến thẩm quyền xử phạt cũng cần phải có thời gian kiểm chứng về tính phù hợp cũng như hiệu quả thực tế sau khi được ban hành.

(1) Dự án Luật XLVPHC không quy định thẩm quyền XLVPHC của Chủ tịch Hội đồng cạnh tranh và Thủ trưởng Cơ quan quản lý cạnh tranh tại Điều 40c của Pháp lệnh hiện hành.

Nguyễn Thanh Hà - Vụ Pháp luật Hình sự - Hành chính, Bộ Tư pháp