Nhằm tháo gỡ khó khăn cho doanh nghiệp và cá nhân trong tình hình lạm phát tăng cao, Quốc hội đã ra Nghị quyết về miễn giảm thuế. Bài này chỉ bàn về việc miễn thuế thu nhập cá nhân (TNCN) đối với những người có thu nhập từ tiền lương, tiền công và từ kinh doanh vì đang có dư luận cho rằng văn bản hướng dẫn thi hành không phù hợp với văn bản của Quốc hội.
Xin đi từ quy định trong NQ 08: “5. Miễn thuế TNCN từ ngày 1/8/2011 đến hết ngày 31/12/2011 đối với cá nhân có thu nhập tính thuế từ tiền lương, tiền công và từ kinh doanh đến mức phải chịu thuế TNCN ở bậc 1 của biểu thuế lũy tiến từng phần quy định tại Luật Thuế TNCN số 04/2007/QH12.
Quốc hội đã quyết định:
1) Thời gian miễn thuế tính từ 1/8/2011 đến hết ngày 31/12/2011.
2) Chỉ miễn cho những người chịu thuế TNCN bậc 1 (tức là những người có thu nhập từ trên 4 triệu đồng tới 9 triệu đồng/tháng, không có người phụ thuộc phải nuôi dưỡng, nếu có người phụ thuộc thì được trừ thêm 1,6 triệu/tháng cho mỗi người phụ thuộc), không đề cập tới việc miễn thuế cho những người nộp thuế từ bậc 2 trở lên.
Nghị định 101/2011/NĐ-CP (4/11/2011) quy định chi tiết thi hành như sau:
3) Miễn thuế TNCN từ ngày 1/8/2011 đến hết ngày 31/12/2011 đối với cá nhân có thu nhập tính thuế từ tiền lương, tiền công và từ kinh doanh đến mức phải chịu thuế TNCN ở bậc 1 của biểu thuế lũy tiến từng phần quy định tại Điều 22 Luật Thuế TNCN.
Thu nhập tính thuế làm căn cứ xác định việc miễn thuế quy định tại khoản này là thu nhập tính thuế bình quân của cá nhân thực nhận trong năm 2011. (Điều 4).
Qua đoạn dẫn trên có thể thấy NĐ 101 bắt đầu không bám sát quy định về thời gian miễn thuế là từ 1/8 đến 31/12/2011 như đã ghi trong NQ 08 và ngay cả NĐ 101, mà quy định thu nhập tính thuế để tính miễn thuế là thu nhập tính thuế bình quân năm, tức không tính theo thu nhập tính thuế cụ thể của các tháng được miễn.
Thông tư 154/2011/TT-BTC (11/11/2011) hướng dẫn thi hành NĐ 101 như sau:
1. Miễn thuế TNCN từ ngày 01/8/2011 đến hết ngày 31/12/2011 đối với cá nhân, hộ kinh doanh có thu nhập tính thuế từ tiền lương, tiền công và từ kinh doanh đến mức phải chịu thuế TNCN ở bậc 1 của biểu thuế lũy tiến từng phần quy định tại Điều 22 Luật thuế TNCN số 04/2007/QH12 ngày 21/11/2007.
2. Cá nhân, hộ kinh doanh có thu nhập tính thuế từ tiền lương, tiền công và từ kinh doanh phải chịu thuế TNCN từ bậc 2 trở lên... không được miễn thuế ở bậc 1 của Biểu thuế lũy tiến từng phần” (Điều 13). Còn số thuế được miễn tính theo công thức: Số thuế được miễn = (thu nhập tính thuế cả năm 2011 ở bậc 1 : 12) x thuế suất theo Biểu thuế lũy tiến từng phần x 5 tháng. (Điều 16)
Như vậy TT 154 khẳng định : 1) Những người nộp thuế từ bậc 2 trở lên không được miễn thuế (không trái với NQ 08 và NĐ 101). 2) Số thuế được miễn là 5 tháng tính theo thu nhập tính thuế bình quân năm 2011, nếu rơi vào bậc 1.
Có nghĩa là nếu thu nhập bình quân năm rơi vào bậc 2 trở lên thì không được miễn, dù rằng nếu tính thu nhập bình quân trong 5 tháng miễn thuế có thể rơi vào bậc 1 và được miễn.
Tóm lại thắc mắc của dư luận xoay quanh vấn đề chữ nghĩa trong văn bản dưới luật (NĐ 101, TT 154) không quán triệt được quy định trong luật (NQ 08), trong đó rõ nhất là tùy tiện hiểu thời gian từ 1/8 đến 31/12/2011 chỉ là 5 tháng đơn giản như mọi tháng trong năm, trong khi thu nhập thực nhận (dùng để tính thuế) của những tháng này có thể khác các tháng khác.
Có người đã tính toán và chứng minh rằng nếu tính theo công thức của Bộ Tài chính thì có người nộp thuế lợi, nhưng cũng có người bị thiệt.
Tuy nhiên vì sai số ở đây không lớn, nên vấn đề lợi thiệt ở đây không phải là câu chuyện quá quan trọng, hơn nữa nó đã được các nhà làm luật cân nhắc khi dự thảo và thông qua luật.
Vấn đề quan trọng về mặt nguyên tắc cần nhấn mạnh là phải bảo đảm tính thống nhất, nhất quán về mặt chữ nghĩa giữa các văn bản pháp luật, trong đó chữ nghĩa ghi trong luật là tối thượng, các văn bản dưới luật phải phục tùng, phải diễn đạt, cụ thể hóa đúng những chữ nghĩa đã ghi trong luật. Tuyệt đối không được sử dụng văn bản dưới luật để sửa đổi, bổ sung luật.
Đây chính là sự khác nhau giữa chữ nghĩa pháp lý với chữ nghĩa văn chương. Chữ ghi trong văn bản pháp luật bao giờ cũng chỉ được hiểu theo một nghĩa, không được suy ra nghĩa thứ hai.
Bởi vậy trong nhiều văn bản luật, người ta đã dành hẳn một chương (mục) giải thích từ ngữ để định rõ giới hạn nghĩa của từ ngữ ghi trong luật. Điều này không mới đối với các nhà làm luật, song vẫn có trường hợp suy diễn nghĩa đã xảy ra, như trường hợp bàn trong bài này. Nếu NQ 08 chỉ ghi miễn thuế TNCN 5 tháng thì có lẽ không có điều gì cần bàn.
Còn nếu NQ 08 đã ghi rõ miễn thuế từ 1/8 đến 31/12/2011 thì NĐ, TT phải hướng dẫn thi hành đúng như thế, trong đó cần hiểu 5 tháng ở đây đã được xác định là các tháng 8, 9, 10, 11 và 12/2011. Vấn đề quan trọng không phải là ai lợi, ai thiệt, mà là thi hành nghiêm chỉnh luật.
LÊ VĂN TỨ
Nguồn: Báo Doanh Nhân Sài Gòn