Cán cân thương mại năm 2013 về cơ bản là cân bằng
Người Việt Nam đang lo ngại sâu sắc về USD trong bối cảnh hệ thống tài chính của nước Mỹ tiếp tục ngập sâu trong rắc rối.

Hàng Việt Nam đã có mặt ở gần 200 nước

Hiện nay, hàng hóa xuất khẩu của ta đã có mặt trên thị trường của gần 200 nước và vùng lãnh thổ. Bên cạnh các thị trường xuất khẩu truyền thống như Hoa Kỳ, EU, Nhật Bản, các nước ASEAN thì xuất khẩu của nước ta sang thị trường mới như Châu Phi, Trung Đông, Mỹ La-tinh đã có bước phát triển. Năm qua, Bộ Công Thương đã chủ động tham mưu đề xuất với Chính phủ để Việt Nam đàm phán, ký kết nhiều Hiệp định kinh tế, thương mại với các đối tác thương mại lớn, quan trọng trên thế giới; tham gia vào các FTA song phương và khu vực; đang đàm phán TPP và chủ động trong bảo vệ lợi ích của Việt Nam trong các diễn đàn của WTO, tích cực tham gia vận động nhiều nước công nhận Việt Nam có nền kinh tế thị trường; chủ động chủ trì và tham gia xử lý có hiệu quả các rào cản kỹ thuật của các đối tác thương mại, chủ động khởi kiện đối với hàng hóa nhập khẩu có dấu hiệu vi phạm pháp luật, phòng vệ thương mại và vận hành tốt hệ thống cảnh báo sớm nguy cơ hàng xuất khẩu của Việt Nam bị điều tra áp dụng các biện pháp chống bán phá giá. Việt Nam ngày càng tham gia sâu rộng vào các hoạt động hội nhập quốc tế, ngày càng có tiếng nói quan trọng với ý thức trách nhiệm cao trong các diễn đàn khu vực và thế giới, do đó đã góp phần mở rộng thị trường và tạo ra cơ hội lớn cho hàng xuất khẩu của Việt Nam.

Sản xuất phục hồi, hàng tồn kho giảm

Theo đó, xuất nhập khẩu của nước ta thời gian qua đã có bước phát triển đáng kể, quy mô và tốc độ tăng trưởng xuất khẩu hàng hoá đều đạt và vượt các chỉ tiêu đặt ra. Tổng kim ngạch xuất khẩu hàng hoá cả năm 2013 ước đạt khoảng 132 tỷ USD, tăng 15,3% so với năm 2012, vượt chỉ tiêu so với kế hoạch của Quốc hội đề ra (là 126,1 tỷ USD, tăng 10%). Mặc dù trong năm, xuất khẩu gặp nhiều khó khăn như giá xuất khẩu một số mặt hàng giảm, thị trường xuất khẩu tại một số địa bàn bị thu hẹp…, song nhờ thích ứng tốt, nhiều mặt hàng xuất khẩu chủ lực đã đạt kim ngạch xuất khẩu cao, vượt mục tiêu đề ra, như: dệt may, da giày, gỗ và sản phẩm gỗ, máy vi tính sản phẩm điện tử và linh kiện…. Điều này đã phản ánh năng lực sản xuất hàng xuất khẩu của nền kinh tế ngày càng được mở rộng, cơ cấu hàng xuất khẩu từng bước đã có sự chuyển dịch theo hướng tăng các sản phẩm qua chế  biến.

Sản xuất công nghiệp đang trên đà phục hồi, nhất là công nghiệp chế biến, chế tạo. Năm 2013, chỉ số sản xuất công nghiệp dự kiến cả năm tăng 5,6% so với cùng kỳ, cao hơn so với cùng kỳ năm ngoái (năm 2012 tăng 4,8% so với năm 2011), thể hiện được sự cố gắng của toàn ngành, nhất là của đội ngũ các doanh nhân Việt Nam. Cơ cấu kinh tế tiếp tục chuyển dịch theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Trong lĩnh vực công nghiệp đã tập trung phát triển các ngành có hàm lượng công nghệ cao, có giá trị gia tăng; sản xuất hàng xuất khẩu, công nghiệp hỗ trợ, công nghiệp chế biến nông-lâm-thuỷ sản được quan tâm hỗ trợ phát triển. Tỷ trọng công nghiệp chế biến, chế tạo tăng từ 60,2% năm 2010 lên khoảng 78% năm 2013. Tình hình hàng tồn kho, hàng ứ đọng trong doanh nghiệp nhìn chung đã có chuyển biến tích cực, chỉ số tồn kho trong lĩnh vực chế biến, chế tạo đã giảm dần.

Hàng Việt được ưa chuộng, thị trường bình ổn

Đối với thị trường trong nước, cân đối cung cầu hàng hóa thiết yếu được bảo đảm, đáp ứng đủ các nhu cầu về sản xuất và tiêu dùng của mọi tầng lớp dân cư, không để xảy ra tình trạng sốt giá do thiếu, khan hiếm hàng hóa. Nhiều hoạt động xúc tiến thương mại trong nước được triển khai tích cực cùng với việc thực hiện cuộc vận động “Người Việt Nam ưu tiên dùng hàng Việt Nam” đã từng bước góp phần tạo nên sự thay đổi trong nhận thức của người tiêu dùng về hàng Việt Nam. Quy mô thị trường trong nước không ngừng nâng cao, tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng ước tăng 14% so với năm 2012.

Định hướng năm 2014

Bước vào thực hiện kế hoạch năm 2014, cùng với việc chuẩn bị hình thành Cộng đồng ASEAN vào cuối năm 2015 và ký kết Hiệp định đối tác xuyên Thái Bình Dương (TPP), các Hiệp định thương mại tự do với EU, với liên minh thuế quan Nga – Belarus – Kazakhstan và với các đối tác lớn khác… Để thực hiện các mục tiêu, nhiệm vụ của Chiến lược phát triển kinh tế – xã hội giai đoạn 2011-2020 và kế hoạch phát triển kinh tế xã hội 5 năm 2011-2015, trong phạm vi chức năng, nhiệm vụ của được giao, Bộ Công Thương đã xác định một số phương hướng phát triển ngành trong năm 2014 như sau:

Về sản xuất công nghiệp: phát triển công nghiệp đảm bảo tính bền vững, hiệu quả với giá trị gia tăng công nghiệp – xây dựng tăng khoảng 6,4-6,6%, đảm bảo sự gắn kết một cách thực sự giữa công tác quy hoạch sản xuất trong nước với công tác thị trường ngoài nước; phát triển có chọn lọc những ngành công nghiệp mà nước ta có nhiều lợi thế; phát triển mạnh công nghiệp hỗ trợ, chú trọng phát triển công nghiệp phục vụ nông nghiệp, nông thôn, năng lượng sạch, năng lượng tái tạo và vật liệu mới đi đôi với áp dụng công nghệ tiết kiệm năng lượng, nguyên liệu; từng bước phát triển công nghiệp sinh học và công nghiệp vì môi trường bền vững. Tiếp tục phát triển phù hợp các ngành công nghiệp sử dụng nhiều lao động.

Tập trung ưu tiên mọi nguồn lực để hoàn thành đầu tư xây dựng một số công trình then chốt về năng lượng, cơ khí chế tạo, khai khoáng, hóa chất, hóa dầu, hóa dược…, công nghiệp hỗ trợ, công nghiệp phục vụ xuất khẩu, giảm nhập khẩu với trình độ công nghệ ngày càng cao, thân thiện với môi trường, tiêu tốn ít nguyên liệu, năng lượng, tăng sức cạnh tranh và giá trị gia tăng. Về thương mại: Phát triển thương mại Việt Nam trong giai đoạn tới cần phải gắn với tính bền vững và góp phần nâng cao sức cạnh tranh của nền kinh tế, thể hiện rõ nét hơn chủ trương chuyển dịch và tái cơ cấu gắn với đổi mới mô hình tăng trưởng kinh tế, nâng cao hiệu quả và năng lực cạnh tranh xuất nhập khẩu, góp phần phát triển sản xuất, tham gia đóng góp tích cực vào sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa, giải quyết việc làm, đẩy mạnh lưu thông hàng hóa và trong một vài năm tới, tiến tới cân bằng cán cân thương mại một cách vững chắc.

Đối với xuất khẩu: Phấn đấu đạt tốc độ tăng trưởng xuất khẩu trên 10%. Để thúc đẩy xuất khẩu, cần phát triển xuất khẩu các mặt hàng mới là các mặt hàng chế tạo có công nghệ trung bình và công nghệ cao, phù hợp với xu hướng tiêu thụ của thị trường thế giới và định hướng chiến lược xuất khẩu với lợi thế của Việt Nam, đây được coi là khâu đột phá; Bên cạnh đó, cần tiếp tục tập trung phát triển xuất khẩu những mặt hàng có lợi thế về điều kiện tự nhiên và nguồn lao động sẵn có như thuỷ sản, nông sản, dệt may, điện tử, các sản phẩm chế tác công nghệ trung bình. Mặt khác, không khuyến khích và có lộ trình phù hợp hạn chế đầu tư sản xuất và xuất khẩu các mặt hàng có giá trị gia tăng thấp hoặc lĩnh vực sản xuất gây ô nhiễm môi trường. Chú trọng phát triển các mặt hàng xuất khẩu thân thiện với môi trường, sử dụng tiết kiệm năng lượng và tài nguyên thiên nhiên; Điểm hết sức quan trọng là tập trung phát triển thị trường cho các sản phẩm có sức cạnh tranh lớn, có giá trị gia tăng cao hoặc các nhóm sản phẩm có tỷ trọng kim ngạch lớn.

Đối với nhập khẩu: nhập siêu được duy trì ở mức 6% hoặc thấp hơn nữa so với tổng kim ngạch xuất khẩu, khuyến khích nhập khẩu công nghệ cao, công nghệ tiên tiến, công nghệ nguồn; hạn chế nhập khẩu các loại hàng hóa mà trong nước đã sản xuất được với chất lượng đảm bảo và giá cả cạnh tranh; hạn chế nhập khẩu hàng xa xỉ; đẩy mạnh phát triển ngành công nghiệp hỗ trợ và các ngành công nghiệp thay thế nhập khẩu. Đồng thời, Việt Nam cần tiếp tục áp dụng các biện pháp hạn chế nhập khẩu để bảo vệ sản xuất trong nước phù hợp với các cam kết hội nhập kinh tế quốc tế, các biện pháp tự vệ khẩn cấp, áp thuế chống bán phá giá, các tiêu chuẩn kỹ thuật, các biện pháp kiểm dịch động thực vật… ngăn chặn hàng hóa nhập lậu, tranh thủ mở cửa thị trường trong các FTA mới để đa dạng hóa thị trường nhập khẩu và nhập khẩu công nghệ nguồn. 

Đối với thương mại nội địa: phấn đấu tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ nội địa đạt tốc độ tăng trưởng khoảng 14%Bảo đảm cân đối cung cầu những mặt hàng trọng yếu của của nền kinh tế và tiến tới thỏa mãn nhu cầu ngày càng nhiều mặt hàng tiêu dùng cho nhân dân. Đẩy nhanh quá trình hiện đại hóa kết cấu hạ tầng thương mại; chú trọng xây dựng và phát triển hệ thống siêu thị, trung tâm thương mại, cửa hàng tiện ích tại các thành phố và đô thị. Tiếp tục đa dạng các loại hình và phương thức kinh doanh hiện đại khác như: sàn giao dịch, trung tâm đấu giá, nhượng quyền kinh doanh, thương mại điện tử…

Về hội nhập kinh tế quốc tế: Cần tiếp tục chủ động đẩy mạnh trên cả bình diện song phương, khu vực, đa phương; nâng cao hiệu quả hơn nữa của quá trình hội nhập quốc tế, hạn chế tối đa các thách thức do quá trình hội nhập này mang lại.

Nguồn: http://www.mof.gov.vn/portal/page/portal/mof_vn/1370586?p_page_id=2202243&pers_id=2177079&item_id=115670271&p_details=1