Công văn… hành doanh nghiệp
Người Việt Nam đang lo ngại sâu sắc về USD trong bối cảnh hệ thống tài chính của nước Mỹ tiếp tục ngập sâu trong rắc rối.

Những quy định trái luật

Công văn số 7527 trái với Luật Doanh nghiệp khi bổ sung thêm một điều kiện để các DN xuất khẩu được hoàn thuế giá trị gia tăng (GTGT), hay nói cách khác, đã đặt thêm một điều kiện kinh doanh. Trong khi đó, Nghị định 102/2010/NĐ-CP ngày 1/10/2010 của Chính phủ hướng dẫn chi tiết thi hành một số điều của Luật Doanh nghiệp đã quy định: “Ngành, nghề kinh doanh có điều kiện và điều kiện kinh doanh áp dụng theo các quy định của các luật, pháp lệnh, nghị định chuyên ngành hoặc quyết định có liên quan của Thủ tướng Chính phủ”.

Công văn 7527 đã vi phạm Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật. Bởi lẽ, về hình thức, công văn 7527 chỉ gửi và hướng dẫn cho cục thuế các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương, đó là văn bản lưu hành trong nội bộ Tổng cục Thuế. Song, đối tượng chủ yếu chịu tác động của công văn lại là các DN, trong đó, đặc biệt quan trọng là các DN xuất khẩu. Những quy định của công văn 7527 là quy phạm pháp luật, về nguyên tắc, phải được quy định trong một văn bản quy phạm pháp luật.

Thêm vào đó, công văn 7527 đã xóa bỏ sự độc lập về quyền và nghĩa vụ của các DN- những pháp nhân độc lập. Các DN xuất khẩu, đối tượng chịu thiệt hại từ quy định của công văn 7527 đều là các pháp nhân. Về trách nhiệm của pháp nhân, Bộ Luật Dân sự năm 2005 quy định: Pháp nhân phải chịu trách nhiệm dân sự về việc thực hiện quyền, nghĩa vụ dân sự do người đại diện xác lập, thực hiện nhân danh pháp nhân. Song, công văn số 7527 quy định: “Nếu DN thương mại trung gian đã kê khai, nộp thuế GTGT theo đúng quy định thì mới xét hoàn thuế cho DN xuất khẩu”. Đó là quy định vô lý, vi phạm quy định về quyền và trách nhiệm của pháp nhân trong Bộ luật Dân sự. Bởi lẽ, DN thương mại trung gian và DN xuất khẩu là hai pháp nhân độc lập. Việc DN thương mại trung gian có kê khai, nộp thuế theo đúng quy định hay không hoàn toàn không thuộc quyền và trách nhiệm của DN xuất khẩu. Việc kê khai, nộp thuế của các DN thương mại trung gian không do người đại diện của DN xuất khẩu xác lập do đó, không thể buộc những DN xuất khẩu chịu trách nhiệm.

Quy định của công văn 7527 đã buộc DN xuất khẩu phải trở thành một “thanh tra viên” hoặc “cảnh sát điều tra” khi mua hàng của DN thương mại trung gian. Đó là điều phi thực tế.

Hành doanh nghiệp

Quy định của công văn 7527 đã buộc DN xuất khẩu phải trở thành một “thanh tra viên” hoặc “cảnh sát điều tra” khi mua hàng của DN thương mại trung gian. Đó là điều phi thực tế.

Trong những giao dịch mua, bán hàng hóa, DN xuất khẩu và các DN thương mại trung gian đều thực hiện qua các hợp đồng kinh tế và DN xuất khẩu có nghĩa vụ phải thực hiện những cam kết trong hợp đồng, trong đó có cam kết về thanh toán. Khi DN thương mại trung gian đã giao đủ hàng theo quy định trong hợp đồng, đã cung cấp hóa đơn hợp pháp của DN đó, DN xuất khẩu phải thanh toán tiền hàng, bao gồm cả thuế GTGT, cho người bán không phụ thuộc vào việc người bán có kê khai, nộp thuế hay không.

Với chỉ đạo bằng công văn của Bộ Tài chính, việc khấu trừ thuế, hoàn thuế GTGT của các DN đã gặp những khó khăn lớn. Để được khấu trừ thuế, hoàn thuế, các DN phải chứng minh tính hợp pháp của hóa đơn mua hàng do người bán cung cấp. Những hóa đơn đó phải đáp ứng điều kiện không phải là hóa đơn của những DN được thành lập chỉ để mua, bán hóa đơn; nếu là hóa đơn của DN “bỏ trốn” khỏi địa chỉ kinh doanh thì phải được phát hành trước ngày cơ quan thuế thông báo DN bỏ trốn. Đó thực sự là những điều kiện… “đánh đố” DN.

Luật gia Vũ Xuân Tiền
Nguồn: Báo Công thương