Cơ chế bảo hiến và khung cảnh pháp lý nước ta
Người Việt Nam đang lo ngại sâu sắc về USD trong bối cảnh hệ thống tài chính của nước Mỹ tiếp tục ngập sâu trong rắc rối.

Đối tượng bảo hiến và một số vấn đề cần giải quyết

Trên cơ sở các mục đích của bảo hiến được xác định, đối tượng chính yếu của bảo hiến trước hết tập trung ở các quyết định xâm phạm đến các quyền và lợi ích hợp hiến của công dân. Các quyền này phải được ghi trong hiến pháp và có thể được viện dẫn khi giải quyết vụ việc; và công dân cho rằng quyền và lợi ích hợp hiến này của mình bị xâm phạm. Tuy nhiên, có hai vấn đề cần thảo luận thêm ở nội dung này: Một là, quyết định này là văn bản quy phạm pháp luật hay văn bản cá biệt, hay cả hai? Có nên xem hành vi có dấu hiệu vi hiến là đối tượng của hoạt động bảo hiến? Hai là, cơ quan bảo hiến chỉ xác định các chủ thể cần bảo vệ là công dân hay các đối tượng khác. Trước hết, Nghị quyết 51/2001/QH10 về việc sửa đổi, bổ sung một số điều của Hiến pháp năm 1992 ở nước ta bổ sung một số điều khoản về quyền và lợi ích hợp hiến của đồng bào Việt kiều, trong đó có đoạn: “Người Việt Nam định cư ở nước ngoài là bộ phận của cộng đồng dân tộc Việt Nam Nhà nước bảo hộ quyền lợi chính đáng của người Việt Nam định cư ở nước ngoài” (Điều 75 Hiến pháp năm 1992 được sửa đổi, bổ sung năm 2001). Vậy, đây có phải là đối tượng được bảo vệ theo như các quy định tại hiến pháp? Ngoài ra, người nước ngoài cư trú ở Việt Nam cũng được Hiến pháp Việt Nam xác định: “Người nước ngoài cư trú ở Việt Nam phải tuân theo Hiến pháp và pháp luật Việt Nam, được Nhà nước bảo hộ tính mạng, tài sản và các quyền lợi chính đáng theo pháp luật Việt Nam” (Điều 81 Hiến pháp năm 1992), hoặc quy định về việc xem xét cho cư trú tại Việt Nam đối với người nước ngoài đấu tranh vì tự do, độc lập… (Điều 82 Hiến pháp năm 1992). Vậy, người nước ngoài có thuộc đối tượng có quyền yêu cầu cơ quan bảo hiến giải quyết cho các quyền hợp hiến của mình khi có căn cứ cho rằng các quyền này bị xâm phạm? Bên cạnh đó, các tổ chức hiện nay cũng là đối tượng được điều chỉnh bởi hiến pháp, ngoài cơ quan nhà nước, một số tổ chức khác cũng được quy định trong Hiến pháp như: tổ chức chính trị – xã hội (Điều 9, Điều 10 Hiến pháp năm 1992, được sửa đổi, bổ sung năm 2001); doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế (được quy định từ Điều 19 đến Điều 22 Hiến pháp năm 1992, được sửa đổi, bổ sung năm 2001) và các  đơn vị sự nghiệp thuộc các cơ quan nhà nước… Các tổ chức này có thể khởi xướng một vụ án bảo hiến nếu có căn cứ cho rằng quyền và lợi ích hợp hiến của tổ chức đó bị vi phạm căn cứ vào hiến pháp hay không?

Đối tượng bảo hiến tiếp theo  là các mối quan hệ giữa các cơ quan nhà nước hiến định ở Trung ương. Trong đó, ở Việt Nam, hệ thống cán bộ, công chức không chỉ tồn tại trong cơ quan nhà nước, mà có cả các tổ chức chính trị, chính trị xã hội, công chức lãnh đạo trong các đơn vị sự nghiệp… Bởi vậy mới có khái niệm “cơ quan, tổ chức thuộc khối nhà nước”. Vậy khi nói đến các mối quan hệ giữa các cơ quan nhà nước, chúng ta chỉ giới hạn ở các cơ quan nhà nước hiến định ở Trung ương hay cả các cơ quan, tổ chức thuộc “khối nhà nước” ở Trung ương bởi vì hoạt động quản lý nhà nước không chỉ được thực hiện bởi các cơ quan nhà nước?

Chủ thể bảo hiến nào có hiệu quả tối ưu?

Để xác định một chủ thể bảo hiến thích hợp, có khả năng phát huy được hiệu quả trong hoạt động một cách tối ưu, cần phải xác định tính chất, yêu cầu của cơ quan bảo hiến trong điều kiện nước ta hiện nay.

Chủ thể bảo hiến là chủ thể phản biện, mang tính đánh giá việc thi hành Hiến pháp. Thông qua việc xem xét tất cả các hoạt động có tính chất hiến định của bộ máy nhà nước, nhiệm vụ chính yếu của chủ thể này là xem xét một quyết định, hành vi có vi hiến hay không? Tất nhiên, điều này phát sinh chỉ khi có yêu cầu của một chủ thể cho rằng quyền và lợi ích hợp hiến của mình đã bị xâm phạm. Chủ thể bảo hiến cũng phải là chủ thể có quyền lực tối cao trong hoạt động nghiệp vụ để có đủ thẩm quyền giải quyết các hoạt động có tính hiến định, cơ quan bảo hiến phải có vị trí tối cao trong hoạt động chuyên môn. Khi đó, cách thức tổ chức thành lập của cơ quan này là điều lưu ý. Giả sử những người đứng đầu trong cơ quan này được bầu bởi QH thì sẽ gặp một số vướng mắc như: chịu sự giám sát của QH thì không thể xem xét được hoạt động của QH; hoạt động theo nhiệm kỳ nên không thể an tâm về vị trí của mình khi hết nhiệm kỳ… Vì vậy, chủ thể bảo hiến phải là chủ thể hoạt động độc lập, lấy hiến pháp làm cơ sở đưa ra phán quyết. Cơ quan này phải hoạt động độc lập, nghĩa là không chịu chi phối bởi bất kỳ chủ thể nào trong bộ máy nhà nước. Trong đó, cơ sở để đưa ra phán quyết là hiến pháp. Tất nhiên, một khi hiến pháp không đủ cơ sở làm căn cứ thì các chủ thể này phải căn cứ trên tập quán pháp lý, hoặc lý lẽ của sự công bằng… Chủ thể này phải hoạt động mang tính tập thể, quyết định theo đa số. Do việc xem xét đối tượng có vi hiến hay không vi hiến là một việc khá phức tạp, đòi hỏi chủ thể “cầm cân nảy mực” phải có vốn sống và kiến thức pháp lý, lịch sử lập hiến nhất định nên việc đưa ra phán quyết phải được thảo luận bởi tập thể, quyết định theo đa số. Đây là yêu cầu nhằm đảm bảo tính công bằng của các phán quyết từ cơ quan bảo hiến, có cân đối các lợi ích trong xã hội.

Để thực hiện sứ mệnh bảo vệ hiến pháp thì các quy định, hành vi trái với hiến pháp thuộc phạm vi xem xét sẽ phải được cơ quan bảo hiến “huýt còi”. Hiện nay, chức năng này đang nằm rải rác trong các cơ quan nhà nước, với tính chất “chức năng thứ hai”, “chức năng thứ ba”, tức là công việc không chuyên. Ví dụ: Khoản 9 Điều 85 Hiến pháp nước ta quy định QH có thẩm quyền: “Bãi bỏ các văn bản của Chủ tịch Nước, UBTVQH, Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, Tòa án nhân dân tối cao và Viện kiểm sát nhân dân tối cao trái với Hiến pháp”. Như vậy, ở đây QH vừa là cơ quan lập hiến, vừa là cơ quan giám sát việc thi hành hiến pháp nên hiệu quả khó toàn diện, chuyên tâm. Chính vì lẽ đó, việc cần thiết hiện nay là có một cơ quan chuyên trách mang sứ mệnh “bảo vệ hiến pháp” một cách chuyên tâm và chuyên môn.

Một yêu cầu quan trọng nữa của chủ thể bảo hiến là chủ thể được ủy thác bởi nhân dân, xem xét các quyết định và hành vi của các cơ quan nhà nước tối cao. Điều này, suy cho cùng là thực hiện nguyên tắc: quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân, nhân dân giao quyền lập hiến cho cơ quan quyền lực nhà nước tối cao thì nhân dân có quyền giám sát việc thi hành hiến pháp xem có đúng với mục tiêu, yêu cầu, cam kết ban đầu mà nhà nước đã thực hiện trước toàn dân hay không. Việc giám sát này, nhân dân có thể tự mình thực hiện hoặc giao cho cơ quan có đủ chuyên môn, nghiệp vụ để giám sát việc thi hành hiến pháp – cơ quan bảo hiến.

Với những đặc tính nêu trên, một cơ quan tài phán hiến pháp là thích hợp với hoạt động bảo hiến hơn cả. Hơn nữa, để duy trì hoạt động hiệu quả, cơ quan này phải được tổ chức và hoạt động độc lập với các hệ thống cơ quan nhà nước khác theo sự ủy thác của người dân thực hiện sứ mệnh bảo hiến.

Cơ chế bảo hiến và khung cảnh pháp lý ở nước ta

Không thể phủ nhận sự cần thiết và tầm quan trọng của việc xây dựng cơ quan bảo hiến ở nước ta, song đối chiếu với khung cảnh chính trị, khung cảnh pháp lý nước ta, có thể sẽ phát sinh một số vướng mắc.

Điều 2 Hiến pháp năm 1992 (đã được sửa đổi, bổ sung năm 2001) khẳng định: “Quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phân công và sự phối hợp giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp.” Trong đó, “QH thực hiện quyền giám sát tối cao đối với toàn bộ hoạt động của Nhà nước” (Điều 83 Hiến pháp năm 1992). Có thể nói, trên cơ sở “tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân…”, nhân dân giao quyền này cho cơ quan quyền lực nhà nước tối cao, đó là QH thông qua lá phiếu của mình và cơ chế giám sát cơ quan dân cử… Từ đó, QH sẽ lập ra các cơ quan khác trong bộ máy nhà nước ở Trung ương như: Chính phủ, Tòa án nhân dân tối cao… và bầu ra các cán bộ đứng đầu hệ thống các cơ quan trong bộ máy nhà nước như: Chủ tịch Nước, Thủ tướng Chính phủ, Chánh án Tòa án nhân dân tối cao… Vì vậy, nếu cơ quan bảo hiến được thành lập thì rất khó để sắp xếp vị trí, tổ chức của cơ quan này. Nếu cơ quan bảo hiến thuộc QH thì không thích hợp với chức năng phản biện, chức năng tài phán. Hơn nữa, nếu thuộc QH thì sự kiểm tra nếu có, trở thành kiểm tra nội bộ và dễ biến cơ quan bảo hiến thành một Ủy ban của QH như: Ủy ban Pháp luật, Ủy ban Tư pháp… Khi đó hoạt động bảo hiến sẽ không đúng với mục tiêu ban đầu. Nếu cơ quan bảo hiến thuộc hệ thống Tòa án nhân dân tối cao thì đúng với chức năng “tài phán” của mình, song với cách tổ chức là do QH bầu ra sẽ dẫn đến sự chồng chéo về chức năng giám sát. Thậm chí, nếu QH bầu ra các thẩm phán của tòa bảo hiến theo nhiệm kỳ thì vấn đề đặt ra là, liệu các thẩm phán của Tòa bảo hiến có an tâm thực hiện chức trách, tiến hành các hoạt động của mình?

Ở góc độ khác, để tòa bảo hiến đưa ra một phán quyết chính xác, công bằng thì phải có căn cứ vững chắc. Song, Hiến pháp của nước ta hiện nay, theo nhiều nhà nghiên cứu, còn chung chung và khó viện dẫn. Nếu căn cứ trên một văn kiện như vậy thì có khả năng không xác định được phạm vi mà tòa bảo hiến bảo vệ. Điều này, một mặt vừa hạn chế quyền và lợi ích hợp hiến của người dân; mặt khác gây trở ngại cho Tòa bảo hiến khi phải quyết định một quyết định, một hành vi có vi hiến hay không.  

Ts Phan Trung Hiền
Nguồn: Báo điện tử Đại biểu nhân dân