Công bố Lệnh của Chủ tịch nước về Luật Giá
Người Việt Nam đang lo ngại sâu sắc về USD trong bối cảnh hệ thống tài chính của nước Mỹ tiếp tục ngập sâu trong rắc rối.

Luật Giá bao gồm 5 Chương, 48 Điều được soạn thảo trên nguyên tắc kế thừa những nội dung, những quy định còn phù hợp của Pháp lệnh Giá; thay thế, sửa đổi, bổ sung những điểm mới phù hợp với yêu cầu xây dựng Luật Giá.

Luật Giá cũng đã tiếp thu, chọn lọc pháp luật và kinh nghiệm quản lý giá của các nước, vận dụng phù hợp với điều kiện thực tiễn kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa của Việt Nam.

Điểm nổi bật của Luật Giá đó là tập trung vào các quy định về danh mục hàng bình ổn giá và danh mục hàng hóa, dịch vụ do Nhà nước định giá gắn với các hình thức định giá. Cụ thể, danh mục hàng hóa, dịch vụ Nhà nước thực hiện bình ổn giá gồm: Xăng, dầu thành phẩm; Điện; Khí dầu mỏ hóa lỏng; Phân đạm; phân NPK; Thuốc bảo vệ thực vật theo quy định của pháp luật; Vac-xin phòng bệnh cho gia súc, gia cầm; Muối ăn; Sữa dành cho trẻ em dưới 6 tuổi; Đường ăn (đường trắng và đường tinh luyện); Thóc, gạo tẻ thường; Thuốc phòng, chữa bệnh cho người thuộc danh mục thuốc chữa bệnh thiết yếu sử dụng tại các cơ sở khám, chữa bệnh theo quy định của pháp luật.

Việc bình ổn giá được thực hiện khi giá hàng hóa, dịch vụ thuộc Danh mục quy định có biến động bất thường hoặc mặt bằng giá biến động ảnh hưởng đến ổn định kinh tế – xã hội. Luật cũng quy định Chính phủ quy định chi tiết về trường hợp thực hiện bình ổn giá.

Về thẩm quyền định giá, Luật Giá đã quy định chi tiết về thẩm quyền định gắn với hàng hóa, dịch vụ do Nhà nước định giá. Cụ thể, Chính phủ quy định: khung giá đất; khung giá cho thuê mặt nước; khung giá cho thuê, thuê mua nhà ở xã hội, nhà ở công vụ; Thủ tướng Chính phủ quy định khung giá của mức giá bán lẻ điện bình quân, cơ chế điều chỉnh giá và cơ cấu biểu giá bán lẻ điện; Bộ trưởng Bộ Tài chính, các bộ trưởng, thủ trưởng cơ quan ngang bộ, UBND cấp tỉnh định giá hàng hóa, dịch vụ quy định tại Điều 19 của Luật Giá theo sự phân công, phân cấp của Chính phủ.

Một điểm mới so với Pháp lệnh Giá, Luật Giá đã quy định chế độ phải công khai thông tin về giá đối với cơ quan Nhà nước và tổ chức, cá nhân sản xuất kinh doanh, góp phần làm cho thị trường hoạt động công khai, minh bạch, hạn chế thị trường ngầm, tạo ra sự đồng thuận chung trong xã hội về chủ trương quản lý, điều hành giá để có những phản ứng tâm lý tích cực của người tiêu dùng.

Luật Giá khẳng định và quy định rõ ràng hơn về quyền, nghĩa vụ của tổ chức, cá nhân sản xuất kinh doanh, của người tiêu dùng trong lĩnh vực giá, sau đó mới quy định về hoạt động điều tiết giá của Nhà nước. So với Pháp lệnh Giá, Luật Giá đã quy định rõ về nghĩa vụ niêm yết giá của các tổ chức, cá nhân sản xuất kinh doanh, tạo điều kiện để quy định này đi vào cuộc sống.

Luật Giá cũng quy định kiểm tra yếu tố hình thành giá là việc cơ quan Nhà nước có thẩm quyền thực hiện kiểm tra các yếu tố cấu thành nên giá mua hoặc giá bán của hàng hóa dịch vụ cần kiểm tra yếu tố hình thành giá do các tổ chức, cá nhân sản xuất kinh doanh tính toán khi giá hàng hóa, dịch vụ đó có biến động bất thường; hoặc có những biến động không hợp lý nhằm làm cho giá cả được hình thành ở mức hợp lý phù hợp với giá thị trường trong điều kiện bình thường.

Theo đó, những hàng hóa, dịch vụ phải kiểm tra các yếu tố hình thành giá gồm: hàng hóa, dịch vụ do Nhà nước định giá; hàng hóa, dịch vụ thực hiện bình ổn giá; hàng hóa, dịch vụ khác khi giá có biến động bất thường theo yêu cầu của Thủ tướng Chính phủ, bộ trưởng, thủ trưởng cơ quan ngang bộ, chủ tịch UBND cấp tỉnh.

Về thẩm định giá, Luật Giá đã mở rộng thêm việc thẩm định giá cho cả tài sản của tổ chức, cá nhân khi có nhu cầu. Ngoài ra, đảm bảo cho việc quản lý, sử dụng tài sản Nhà nước hiệu quả hơn, Luật Giá bổ sung thêm loại hình tổ chức thẩm định giá của Nhà nước, chỉ được thực hiện với các tài sản của Nhà nước cho thuê, đi thuê, mua, bán, thanh lý; không thuê được DN thẩm định giá; mua bán tài sản thuộc bí mật Nhà nước…

Minh Anh
Nguồn: Báo Hải quan Online