Để tránh lối mòn ‘tăng trưởng trước, dọn dẹp sau’
Người Việt Nam đang lo ngại sâu sắc về USD trong bối cảnh hệ thống tài chính của nước Mỹ tiếp tục ngập sâu trong rắc rối.

 

Không có chủ đề nào liên quan mật thiết tới chính sách đất đai như việc quản lý môi trường. Không hoạt động nào của Chính phủ Việt Nam nhằm thúc đẩy tăng trưởng, tăng lợi thế cạnh tranh, cải thiện phúc lợi xã hội hoặc theo đuổi các mục tiêu về hiện đại hóa và thu nhập trung bình có thể tách khỏi vấn đề môi trường. Và cũng không có khía cạnh nào của môi trường lại có thể tách khỏi đất và không gian mà nó gắn liền. Đất và môi trường nối kết và phụ thuộc hoàn toàn vào nhau. Tuy vậy, cho đến nay, trên thực tế liên kết giữa quản lý môi trường và chính sách đất đai lại rất yếu.

Rất khó để đánh giá về công tác quản lý môi trường ở Việt Nam. Việt Nam đã đạt được những thành tựu rất ấn tượng và có giá trị trong việc cấm khai thác rừng trên quy mô lớn, hỗ trợ mạnh mẽ của Nhà nước (bao gồm cả những biện pháp khuyến khích động viên) cho phục hồi rừng, những nỗ lực trong việc bảo vệ rừng ngập mặn, quản lý tài nguyên biển, mở rộng những công viên quốc gia, khu bảo tồn thiên nhiên và rừng đặc dụng.

Tuy nhiên, những hoạt đông khác lại đi ngược lại với các thành quả trên. Thuốc trừ sâu, diệt cỏ được sử dụng thoải mái gây ô nhiễm tại ĐB sông Cửu Long và ĐB sông Hồng. Những vùng này hiện đang phải chịu sức ép từ công nghiệp hóa và đô thị hóa nhanh. Việc sử dụng nước ngầm quá mức tại vùng ĐB sông Cửu Long gây ra hiện tượng nước mặn xâm nhập và sụt lún đất. Các đập nước và nhà máy thủy điện như Sơn La, Yali… đã ảnh hưởng tiêu cực tại địa phương và vùng hạ lưu sông. Tăng trưởng nhanh chóng phương tiện giao thông công cộng và cá nhân  tăng khói bụi tại đô thị. Hệ thống xử lý chất thải trong các khu công nghiệp lắp đặt chậm đã khiến chất thải rắn và chất độc hại đang tràn ra hệ thống sông ngòi và ngấm vào đất. Ô nhiễm thượng nguồn sông đã làm tăng chi phí xử lý nước và lọc nước mà người tiêu dùng bỏ ra.

Có rất nhiều dự án, trong đó có cả sự hỗ trợ của các nhà tài trợ quốc tế, đang được tiến hành hoặc thiết lập để đối phó với vấn đề môi trường. Đáp ứng mạnh mẽ yêu cầu của tình hình là một đòi hỏi cấp bách.

Sự bền vững về mặt môi trường là mục tiêu chính của Chính phủ nhằm tránh được vấn đề “tăng trưởng trước, dọn dẹp sau”, vốn là chiến lược phát triển của một số nước Châu Á khác. Quan trọng hơn, môi trường bền vững là yếu tố nền móng cho mục tiêu trở thành nước công nghiệp có thu nhập trung bình vào năm 2020 của Việt Nam.

Trong những năm gần đây, rất nhiều thảo luận về môi trường tập trung vào thách thức và hậu quả của biến đổi khí hậu. Các dự báo chỉ ra rằng, một phần lớn diện tích của hai đồng bằng và dải ven biển sẽ bị ngập lụt và hạ lưu sông cùng nhiều vùng rừng sẽ phải hứng chịu thời tiết rất khắc nghiệt. Trong một vài kịch bản được đưa ra, nhiệt độ tăng sẽ khiến mùa khô dài hơn và làm tăng tần suất của hạn hán khiến nông dân phải thay đổi phương thức canh tác.

Những đe dọa tiềm tàng này cho thấy sự cần thiết phải có phương án phòng ngừa ngay từ bây giờ để đảm bảo chiến lược về giảm nhẹ hậu quả thiên tai và thích nghi với biến đổi khí hậu.

Mặc dù ảnh hưởng của biến đổi khí hậu được dự báo là sẽ rất nghiêm trọng đối với nhiều vùng và quốc gia, vẫn cần phải kiểm chứng thêm những dự báo này. Việt Nam hiện đang có những vấn đề nghiêm trọng dai dẳng về môi trường. Các ảnh hưởng môi trường tiêu cực trong quá khứ cần có phương án xử lý trong khi vẫn cần phải quan tâm tới các vấn đề hiện tại.

Có hai lý do để làm việc này. Thứ nhất, nó sẽ giúp cho việc ngăn chặn hoặc ít nhất là giảm nhẹ tác động, không cho chúng gây hại thêm nữa. Thứ hai, những hành động thích hợp hiện nay sẽ tạo ra những điều kiện (chính sách, quy trình, động lực, định chế…) và khả năng giúp cho đất nước đối đầu với hậu quả của biến đổi khí hậu khi chúng xuất hiện.

Thành tựu chưa rõ ràng về môi trường mang lại nhiều cơ hội cũng như đặt ra thách thức đối với Việt Nam. Việc phục hồi rừng, kiểm soát khai thác gỗ, cải tạo đồi trọc, cải thiện công tác quản lý đất trung du và miền núi đều tạo ra nhiều hiệu ứng lan tỏa. Chương trình trồng rừng đóng góp lớn cho quá trình hấp thụ các-bon. Việc duy trì ổn định vùng rừng đầu nguồn giúp giảm rủi ro từ những đợt lũ quét. Việc bảo vệ rừng đầu nguồn lưu vực sông cũng góp phần giảm lượng phù sa tắc nghẽn và ô nhiễm môi trường cho vùng hạ lưu, nâng cao hiệu suất của các hoạt động phụ thuộc vào rừng đầu nguồn. Giảm sự tích tụ của phù sa sẽ kéo dài tuổi thọ của các đập và hồ chứa, hạn chế việc phải nạo vét các sông, cảng. Những trạm xử lý nước thải có thể hoạt động ổn định, giảm thiểu chi phí vận hành, thay thế và bảo dưỡng.

Ngược lại, vấn đề ô nhiễm liên quan đến việc lạm dụng (và thậm chí là sử dụng không đúng quy cách) thuốc trừ sâu, diệt cỏ đã có ảnh hưởng trực tiếp tới chất lượng sản phẩm, đặc biệt là ngũ cốc, thủy sản, hoa quả. Những sản phẩm độc hại này khi tiêu thụ tại địa phương gây ảnh hưởng xấu tới sức khỏe của người tiêu dùng Việt Nam. Khi được xuất khẩu, những sản phẩm này bị kiểm soát chặt chẽ bởi các cơ quan bảo vệ sức khỏe ở nước ngoài, và điều này đang làm ảnh hưởng tới uy tín của Việt Nam trong việc trở thành một nhà xuất khẩu có trách nhiệm.

Đất nhiễm mặn do việc xây nhiều đập trên vừng thượng lưu sông của Việt Nam và do sự sụt lún đất từ hoạt động bơm nước ngầm đã được cảnh báo. Điều này làm giảm đi diện tích thích hợp cho canh tác hai vụ lúa và những cây trồng không hợp mặn. Nông dân đã thích ứng với hiện tượng này bằng hình thức canh tác xoay vòng lúa -tôm. Như vậy, sự thay đổi này phần nào mang lại lợi ích tích cực về mặt môi trường và kinh tế.

Nỗ lực xây đê chặn nước mặn luôn có tác dụng tiêu cực. Vùng châu thổ vẫn cần những đợt lũ thường xuyên để duy trì độ màu mỡ và cấu trúc của đất canh tác. Hệ thống đê bao và các rào chắn dù có được vận hành tốt thì vẫn giữ lại chất gây ô nhiễm, dẫn đến giảm chất lượng đất và giảm năng suất đất.

Những thay đổi trong chính sách đất đai tại Việt Nam đã có ảnh hưởng đáng kể tới môi trường. Việc phục hồi rừng như đề cập ở trên đã được khuyến khích bằng nhiều hình thức trong các luật đất đai. Người tham gia chương trình trồng rừng có thể tiếp cận với đất đai. Nhiều hạn chế mang tính pháp lý đã làm giảm (nhưng không loại bỏ được) hành động chặt phá rừng trái phép. Việc giao lại đất cho nông dân đã thúc đẩy họ quản lý đất tốt hơn. Trên thực tế, kết quả quản lý yếu kém đối với đất vùng trung du và miền núi chủ yếu là do việc bóp méo động lực kinh tế, dẫn đến tình trạng “cha chung không ai khóc”.

Hoàn cảnh của Việt Nam trong công tác bảo vệ môi trường cũng tương tự nhiều nơi trên thế giới. Việc thúc đẩy các hoạt động định hướng bảo vệ môi trường đòi hỏi cần có những khuyến khích xứng đáng và cả sự chuẩn bị về mặt thể chế để thúc đẩy người dân thay đổi hành vi tiêu cực của mình.

Công tác chuẩn bị về thể chế là một vấn đề quan trọng. Luật Đất đai và những quy định pháp lý phải ngăn chặn việc lạm dụng, sử dụng sai thuốc bảo vệ thực vật và cả việc khai thác cạn kiệt nguồn nước ngầm. Để đảm bảo sự tuân thủ luật thì cần phải có hệ thống giám sát hiệu quả, công khai minh bạch, và sự điều hành rất công tâm, cùng với đó là hình phạt để răn đe người gây ô nhiễm.

Vậy luật và các chính sách đất đai hiện tại ảnh hưởng thế nào tới động lực sử dụng đất ở Việt Nam? Hiện có ba vấn đề nổi lên: giữ đất trồng lúa vĩnh viễn; đói nghèo ở nông thôn trầm trọng thêm do việc đền bù trong quá trình thu hồi đất; và giao đất canh tác ngắn hạn.

Khi người dân có quá ít tài nguyên để tạo ra thu nhập cần thiết cho họ, nghèo là điều chắc chắn. Trong khi việc trồng lúa khiến người dân nghèo, người dân hoàn toàn có thể tăng thu nhập nếu họ được phép chuyển đổi sang trồng cây ăn quả, chăn nuôi, thủy sản, trồng rau, trồng hoa. Lạm dụng bơm nước ngầm và làm ô nhiễm các dòng sông, ao hồ là một hình thức khai thác tài nguyên bừa bãi.

Khi những tài nguyên chung không được kiểm soát nghiêm ngặt thì cá nhân mỗi người nông dân không có lý do nào để phải gìn giữ chúng. Đây là sự thật khi trong một số trường hợp, người dân lại mong đất của họ bị thu hồi lại. Việc giao đất canh tác ngắn hạn (20 năm tính từ 11/1993) làm giảm mong muốn đầu tư thêm vào sản xuất trừ một số hoạt động thu hồi vốn nhanh trong ngắn hạn.

Bốn chính sách khác liên quan đến đất đai tạo ra tác động tiêu cực khác. Việc giảm chi phí tưới tiêu dẫn đến việc sử dụng nước không hiệu quả và làm quá tải hệ thống tưới tiêu. Việc thải nước bẩn từ các khu công nghiệp và các khu chế biến nông sản vào hệ thống dẫn nước khiến không thể dùng được nước ô nhiễm cho canh tác. Chất hóa học và chất kháng sinh được sử dụng trong thủy sản thường xuyên làm nhiễm độc vùng trồng lúa và cây ăn quả. Thuốc bảo vệ thực vật và phân bón trôi xuống vùng hạ lưu gây ảnh hưởng nghiêm trọng về sức khỏe và tạo điều kiện cho rêu, tảo phát triển, cản trở dòng chảy và sự sinh tồn của các loài thực vật có chức năng lọc sạch nước.

Mặc dù đã có rất nhiều khuyến khích động viên, công tác quản lý và giám sát môi trường vẫn đóng vai trò mấu chốt trong việc xử lý các hành vi phá hoại môi trường. Việt Nam đã hoàn thiện khung pháp lí về môi trường, nhưng môi trường vẫn bị phá hoại ở nhiều nơi, và hầu như không được kiểm soát do khâu giám sát và xử lý vi phạm còn yếu.

Báo cáo gần đây của Bộ TNMT đã chỉ ra rằng, khoảng dưới 40% các khu công nghiệp trong cả nước có hệ thống xử lý chất thải đạt tiêu chuẩn hoặc được xác định là đúng tiêu chuẩn quản lý môi trường. Việc gây ô nhiễm này đến lượt nó lại sinh ra các độc hại khác như đã nói ở trên.

Cùng với việc tăng cường giám sát, giảm nghèo là vấn đề cốt yếu cho bảo vệ môi trường và quản lý tài nguyên môi trường. Người nghèo có rất ít lựa chọn ngoài việc phải tận dụng mọi cơ hội ngắn hạn có thể (kể cả phá hoại tài nguyên) để đảm bảo sinh kế. Việc để lại tài nguyên cho hậu thế đối với họ không phải là hành vi hợp lý. Vì vậy, tiếp tục xóa nghèo là giải pháp hữu hiệu nhất để Việt Nam có thể xử lý vấn đề môi trường.

Tác giả: Hồ Đăng Hòa, Lê Thị Quỳnh Trâm, Phạm Duy Nghĩa và Malcolm F. McPherson Bài đã được xuất bản.: 10/10/2012
Nguồn: http://tuanvietnam.net/2012-09-27-de-tranh-loi-mon-tang-truong-truoc-don-dep-sau