Định giá tài sản sở hữu trí tuệ trong giao dịch dân sự
Người Việt Nam đang lo ngại sâu sắc về USD trong bối cảnh hệ thống tài chính của nước Mỹ tiếp tục ngập sâu trong rắc rối.

1.      Lý do định giá quyền sở hữu trí tuệ

Các đối tượng của quyền SHTT (bao gồm sáng chế, giải pháp hữu ích, nhãn hiệu, kiểu dáng công nghiệp, giống cây trồng, các tác phẩm văn học, nghệ thuật, khoa học v.v..) ngày càng được thừa nhận là có thể quy đổi thành tiền. Mặc dù đây là loại tài sản vô hình nhưng có giá trị kinh tế và tinh thần to lớn góp phần quan trọng vào sự hình thành và phát triển nền khoa học, công nghệ, kỹ thuật và văn minh xã hội. Trong hoạt động kinh doanh, quyền SHTT đã trở thành một nguồn tài sản đáng giá[1] để giúp các công ty sở hữu quyền SHTT đó trụ vững trong môi trường cạnh tranh khốc liệt và quyền SHTT đã trở thành đối tượng mặc cả trong các giao dịch thương mại để có được sự đầu tư tài chính, mua bán hoặc chuyển giao công nghệ, hoặc có được các khoản vay hoặc chứng khoán hóa thông qua sự bảo đảm của các tài sản SHTT[2] hoặc là căn cứ để xác định thiệt hại, tổn thất trong các vụ xử lý vi phạm quyền SHTT v.v.. Vì những lý do đó, việc xác định đúng giá trị của tài sản SHTT là việc làm cần thiết của các công ty trong quá trình tìm kiếm cơ hội đầu tư, tiếp cận thị trường vốn và đưa ra các biện pháp hợp lý để bảo vệ quyền SHTT của mình.

2.      Các phương pháp định giá tài sản sở hữu trí tuệ 

Trên thế giới, phương pháp định giá tài sản trí tuệ được chia thành hai nhóm lớn: phương pháp định giá mang tính chất định lượng (qualitative valuation methods) và phương pháp định giá mang tính chất định tính (quantitative valuation methods).

– Phương pháp định giá mang tính chất định lượng[3] được áp dụng phổ biến tại Cơ quan đăng ký sáng chế của Nhật Bản, Cơ quan đăng ký sáng chế và nhãn hiệu hàng hóa của Đan Mạch, Cơ quan đăng ký sáng chế Châu Âu v.v.. nhằm đánh giá xếp hạng và cho thang điểm các tài sản SHTT như sáng chế, nhãn hiệu dựa trên các yếu tố như mức độ và phạm vi ảnh hưởng của các quyền đối với từng đối tượng SHTT và khả năng bảo hộ của những đối tượng này. Phương pháp này được sử dụng cho mục đích quản lý nội bộ các tài sản SHTT của công ty. Ví dụ: theo phương pháp định giá mang tính chất định lượng này, sáng chế có thể được phân thành bốn kiểu quản lý cơ bản: (i) độc quyền (các sáng chế có giá trị cao và được sử dụng riêng cho công ty); (ii) bảo vệ (các sáng chế có giá trị thấp và được sử dụng nội bộ); (iii) cấp quyền sử dụng (các sáng chế có giá trị cao và được li-xăng cho các người sử dụng khác); và (iv) hợp tác liên doanh (các sáng chế có giá trị thấp và cho mục đích li-xăng).

Theo phương pháp định lượng, đối tượng SHTT được đánh giá trên ba khía cạnh:

+ Định giá các quyền: ví dụ tình trạng đơn đăng ký bảo hộ, thời hạn bảo hộ, đặc điểm của từng đối tượng SHTT (sáng chế, giải pháp hữu ích, kiểu dáng công nghiệp, nhãn hiệu v.v..);

+ Định giá khả năng chuyển giao của đối tượng SHTT: ví dụ sự cần thiết của việc phát triển bổ sung cho việc thương mại hóa tài sản SHTT, những hỗ trợ kỹ thuật sau khi chuyển giao công nghệ, các điều kiện li-xăng bắt buộc, nghĩa vụ và sự hợp tác của những người nắm giữ quyền đối với đối tượng SHTT;

+ Định giá tiềm năng kinh doanh: về những cản trở khách quan (ví dụ: yêu cầu có sự chấp thuận của cơ quan có thẩm quyền, v.v..), đóng góp của đối tượng SHTT đối với hoạt động kinh doanh của công ty, khả năng xuất hiện các công nghệ thay thế, v.v..

Các phương pháp này có thể giúp tạo ra một hệ thống hữu ích cho việc định giá trên cơ sở so sánh một tài sản SHTT này với tài sản SHTT khác (ví dụ danh mục sáng chế) khi thực hiện các giao dịch chuyển giao công nghệ có gắn với chuyển giao quyền sở hữu công nghiệp. Nhược điểm của phương pháp này là phụ thuộc nhiều vào ý kiến đánh giá chủ quan của người thẩm định. Các tiêu chí nhận dạng, lựa chọn, xếp hạng vẫn còn phải phụ thuộc vào một trình độ nhất định. Theo những điều kiện như vậy, sẽ là rất khó khăn để nhìn thấy trước diễn biến tiếp theo của tài sản SHTT vì việc đánh giá là hoàn toàn mang tính chủ quan nên kết quả đánh giá có thể ảnh hưởng tới các quyết định quản lý liên quan tới các hoạt động chuyển giao tài sản SHTT và chuyển giao công nghệ.

– Phương pháp định giá mang tính chất định tính[4]: Phương pháp dựa trên cơ sở đo lường và phân tích dữ liệu để tính giá trị của đối tượng SHTT thành tiền, bao gồm ba phương thức tiếp cận được áp dụng rộng rãi sau đây:

+ Phương thức tiếp cận chi phí (the cost approach): là dựa vào chi phí để có được tài sản SHTT thông qua việc nghiên cứu và phát triển nội bộ của công ty hoặc thông qua việc mua lại hoặc được chuyển giao đối tượng SHTT từ công ty khác. Phương thức này dựa vào việc tính toán các chi phí mô phỏng hoặc thay thế một đối tượng SHTT. Ví dụ đối với sáng chế (hoặc giải pháp hữu ích), các chi phí mô phỏng là các chi phí liên quan tới việc dựng lại các mô hình chính xác của sáng chế được cấp bằng được định giá. Ngược lại, chi phí thay thế là chi phí để có được một sáng chế có khả năng sử dụng tương đương với sáng chế được cấp bằng cần được định giá. Thuận lợi của phương pháp này là có tính khách quan và sự ổn định, tính tin cậy của các số liệu về chi phí. Tuy nhiên, phương thức tiếp cận chi phí không được sử dụng rộng rãi đối với việc định giá sáng chế vì nó không phản ánh được giá trị kinh tế trong tương lai của sáng chế được định giá, không có sự tương quan giữa chi phí và giá trị của tài sản, khó phân biệt giữa chi phí hoạt động thông thường với chi phí đầu tư cho tài sản SHTT của công ty, tính chất chủ quan của việc ước tính chi phí thay thế với sáng chế không có khả năng thay thế. Do vậy, phương thức tiếp cận chi phí được sử dụng hạn chế trong trường hợp chi phí thay thế có thể ước tính được với sự tin cậy và bảo mật cao. Đối với việc định giá nhãn hiệu/tên thương mại, người ta có thể dùng nhiều cách thức khác nhau như cộng dồn toàn bộ chi phí phát sinh tạo nên nhãn hiệu hoặc tính chi tiết chi phí tạo nên nhãn hiệu (có trừ đi khấu hao tính theo vòng đời sử dụng của nhãn hiệu) hoặc quy các khoản chi phí tạo nên nhãn hiệu của từng năm về thời điểm hiện tại theo một tỷ lệ chiết khấu hợp lý hoặc cộng dồn toàn bộ chi phí tạo nên nhãn hiệu và điều chỉnh hệ số về hiệu quả sử dụng chi phí[5]. Tuy nhiên, mỗi cách thức đều có nhược điểm nhất định vì phụ thuộc vào việc xác định cơ sở dữ liệu tin cậy để định giá và các chi phí phát sinh để tạo dựng nhãn hiệu/tên thương mại (như chi phí quảng cáo, chiến dịch sáng tạo v.v..) có thể không phản ánh đúng khả năng sinh lợi của nhãn hiệu/tên thương mại đó trong tương lai.

+ Phương thức tiếp cận thị trường (the market approach): Phương thức này xác định giá trị của một tài sản SHTT bằng việc phân tích các giao dịch thị trường có khả năng so sánh giữa tài sản SHTT này với những tài sản SHTT tương tự khác. Tính tương tự thể hiện trong việc sử dụng, các đặc điểm về công nghệ, chi tiết, tính năng và các quyền sở hữu đối với tài sản SHTT cũng như sự nhận thức của công chúng về tài sản SHTT trên thị trường hoặc là tài sản SHTT được giao dịch trong những hoàn cảnh tương tự.

Tuy nhiên, trên thực tế, chúng ta thấy số lượng các giao dịch về chuyển nhượng hoặc chuyển giao đối tượng SHTT diễn ra công khai trên thị thường rất ít[6], do vậy thiếu sự rõ ràng, minh bạch, thiếu thông tin về đối tượng SHTT được giao dịch để làm cơ sở so sánh giá trị. Hoặc là đối tượng SHTT được giao dịch là cái duy nhất, nên chúng ta không thể tìm kiếm được một đối tượng SHTT tương tự để tiến hành so sánh khi định giá. Hoặc là trong các giao dịch liên quan đến mua bán, sáp nhập công ty hoặc mua bán tài sản công ty hoặc mua chứng khoán của công ty có sở hữu tài sản SHTT, người mua và người bán rất khó khăn trong việc phân định giữa giá trị của tài sản hữu hình và tài sản vô hình mà họ thường gộp chung lại thành một giá bán tài sản nhất định. Vì những hạn chế nêu trên nên phương thức này ít được áp dụng.

+ Phương thức tiếp cận theo thu nhập (the income approach): phương thức này được sử dụng để tính giá trị hiện tại của dòng tiền thu nhập trong tương lai của một tài sản SHTT trong suốt thời hạn bảo hộ. Phương pháp chiết khấu dòng tiền cho phép dòng tiền thu nhập trong tương lai được ước tính có thể biến đổi thành giá trị hiện tại bằng việc chiết khấu dòng tiền thu nhập trong tương lai theo một tỷ lệ chiết khấu phù hợp. Nhưng khó khăn chính là làm thế nào để xác định được tỷ lệ chiết khấu phù hợp? Một số yếu tố rủi ro cần được xem xét khi xác định tỷ lệ chiết khấu phù hợp như rủi ro về công nghệ, thị trường, chính sách, lạm phát, khả năng thanh toán, nạn sao chép bất hợp pháp đối tượng SHTT, khả năng đối tượng SHTT không còn sử dụng được lâu dài, v.v.. Thông thường xác định tỷ lệ chiết khấu dựa trên tỷ lệ sinh lời mà nhà đầu tư mong đợi trên khoản đầu tư vào tài sản SHTT phụ thuộc vào tính chất và các kinh nghiệm liên quan đến xác định rủi ro. Rủi ro càng cao thì tỷ lệ sinh lợi mong đợi càng lớn. Nhược điểm của phương pháp này là thiếu tính khách quan và chính xác trong việc dự báo dòng tiền thu nhập trong tương lai.

Nếu như tất cả các phương thức tiếp cận của phương pháp định tính đều nhằm mục đích cuối cùng là xác định giá trị bằng tiền của tài sản SHTT, thì việc lựa chọn phương thức tiếp cận nào vẫn còn là khó khăn và không có câu trả lời chính xác, mỗi phương thức tiếp cận đều có ưu điểm và nhược điểm nhất định. Tùy thuộc vào mục đích của việc định giá để xác định giá trị thành tiền của tài sản SHTT, chúng ta có thể lựa chọn một phương thức tiếp cận thích hợp. Ví dụ: phương thức tiếp cận chi phí thường được sử dụng khi định giá cho mục đích kế toán và nộp thuế thu nhập doanh nghiệp; phương thức tiếp cận thu nhập được sử dụng cho mục đích xác định thuế thu nhập cá nhân và khi tài sản SHTT được sử dụng làm tài sản bảo đảm cho nguồn thu tương lai phát sinh từ tài sản SHTT bảo đảm đó; phương thức tiếp cận thị trường được sử dụng cho mục đích quản lý nội bộ của công ty.

3.      Pháp luật Việt Nam về vấn đề định giá tài sản sở hữu trí tuệ

Chính sách khuyến khích công dân Việt Nam nghiên cứu và phát triển khoa học kỹ thuật, phát minh, sáng chế, sáng tác và khuyến khích các cá nhân, tổ chức nước ngoài đầu tư vốn, công nghệ vào Việt Nam đã được ghi nhận trong Hiến pháp năm. Hơn nữa, quyền tác giả, quyền sở hữu công nghiệp được Nhà nước cam kết bảo hộ. Tuy nhiên, chúng ta thấy còn có nhiều vướng mắc và hạn chế khi triển khai chính sách này trong thực tiễn:

– Vấn đề thứ nhất, trong hoạt động thương mại, chính sách này đã được cụ thể hóa bằng quy định của Luật Doanh nghiệp năm 2005 và Nghị định 102/2010/NĐ-CP ngày 1/10/2010 hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Doanh nghiệp, theo đó, tài sản góp vốn vào công ty có thể là quyền SHTT, bao gồm “quyền tác giả, quyền liên quan đến quyền tác giả, quyền sở hữu công nghiệp, quyền đối với giống cây trồng và các quyền SHTT khác theo quy định của pháp luật SHTT. Chỉ cá nhân, tổ chức là chủ sở hữu đối với các quyền nói trên mới có quyền sử dụng các tài sản đó để góp vốn”[7]. Tuy nhiên, trên thực tế để các chủ sở hữu quyền SHTT có thể dùng tài sản SHTT góp vốn thành lập doanh nghiệp hoặc sử dụng quyền SHTT như là một hàng hóa có khả năng trao đổi ngang giá (thay cho thanh toán bằng tiền mặt) để mua cổ phần của một công ty trong các hoạt động mua bán, sáp nhập hoặc mua cổ phần của các công ty cổ phần còn gặp rất nhiều khó khăn vì việc định giá quyền SHTT ở Việt Nam chưa được pháp luật hướng dẫn cụ thể và có nhiều ý kiến khác nhau của các cơ quan quản lý về thuế, kế toán về vấn đề này.

– Vấn đề thứ hai, hiện nay quyền SHTT không chỉ là đối tượng góp vốn trong việc thành lập, mua bán, sáp nhập công ty mà còn được sử dụng làm tài sản bảo đảm trong các giao dịch dân sự.  Điều 322 Bộ luật Dân sự năm 2005 quy định “các quyền tài sản phát sinh thuộc sở hữu của bên bảo đảm bao gồm quyền tài sản phát sinh từ quyền tác giả, quyền sở hữu công nghiệp, quyền đối với giống cây trồng… đều được dùng để bảo đảm thực nghĩa vụ dân sự”. Tuy nhiên, ở Việt Nam, vì không có sự hiểu biết đầy đủ về tài sản SHTT và thiếu cơ chế thẩm định giá trị của tài sản SHTT, nên các tổ chức tín dụng không chấp nhận hình thức vay vốn có bảo đảm bằng tài sản SHTT và trên thị trường chứng khoán Việt Nam không xuất hiện các giao dịch mua bán chứng khoán có tài sản bảo đảm là tài sản SHTT.

– Vấn đề thứ ba, các giao dịch liên quan đến chuyển nhượng hoặc li-xăng quyền sử dụng tài sản SHTT xuất hiện ngày càng nhiều, nhưng chưa thể tạo ra được một thị trường công nghệ để những bên có nhu cầu về chuyển giao công nghệ tìm được nhau cũng như có cơ sở để các bên có thể so sánh đối tượng được chuyển giao với các đối tượng công nghệ khác, nhằm tìm ra được một mức giá chuyển nhượng hoặc li-xăng hợp lý. Ví dụ: vụ nhãn hiệu P/S của Hãng kem Dạ Lan đã được bán với giá 5 triệu đô la trong khi khối tài sản hữu hình chỉ bán được với giá 1 triệu đô la. Để tính toán được giá trị của nhãn hiệu hàng hóa P/S, ông chủ của nhãn hiệu hàng hóa này đã phải thuê các chuyên gia định giá của Singapore định giá theo thông lệ quốc tế.

– Vấn đề thứ tư, do không có quy định hướng dẫn cụ thể về định giá tài sản SHTT nên trong các vụ án xử lý vi phạm quyền SHTT, tòa án không có căn cứ pháp lý chính thức để xác định được mức bồi thường thiệt hại thỏa đáng mà bên vi phạm phải bồi thường cho bên bị vi phạm. Trong những vụ kiện này, mức bồi thường vẫn chủ yếu là do các bên tự thỏa thuận với nhau.

– Vấn đề thứ năm, về mặt kế toán, tài sản SHTT có thể không được ghi nhận là tài sản cố định vô hình vì nhiều lý do như nó không phải là nguồn lực có thể xác định được, không đánh giá được mức độ tin cậy và doanh nghiệp không kiểm soát được. Đây là điều kiện không dễ dàng đối với các doanh nghiệp chưa có nhiều kinh nghiệm quản lý tài sản SHTT và ghi nhận riêng biệt và đầy đủ các khoản chi phí, đầu tư cho việc nghiên cứu và phát triển tài sản SHTT.

Bộ Tài chính đang được giao nhiệm vụ hướng dẫn việc định giá quyền SHTT. Trên cơ sở đó, Bộ Tài chính đã soạn thảo một dự thảo thông tư hướng dẫn thực hiện góp vốn và nhận góp vốn bằng giá trị quyền sử dụng nhãn hiệu. Theo các quy định của bản dự thảo này, việc định giá giá trị quyền sử dụng nhãn hiệu hàng hóa khi đem góp vốn dựa vào một trong sáu phương pháp được quy định trong Thông tư 17/2006/TT-BTC ngày 13/3/2006 của Bộ Tài chính hướng dẫn thực hiện Nghị định số 101/2005/NĐ-CP ngày 3/8/2005 của Chính phủ về thẩm định giá, bao gồm: (i) phương pháp chi phí được áp dụng cho thẩm định giá các tài sản chuyên dùng, ít hoặc không có mua bán phổ biến trên thị trường, tài sản đã qua sử dụng, tài sản không đủ điều kiện để áp dụng phương pháp so sánh; (ii) phương pháp thu nhập được áp dụng để thẩm định tài sản đầu tư (bất động sản, động sản, doanh nghiệp, tài chính) mà tài sản đó có khả năng tạo ra thu nhập trong tương lai và đã xác định tỷ lệ vốn hóa thu nhập; (iii) phương pháp so sánh được áp dụng để thẩm định các tài sản có giao dịch mua, bán phổ biến trên thị trường; (iv) phương pháp thặng dư được áp dụng để thẩm định giá bất động sản có tiềm năng phát triển; (v) phương pháp lợi nhuận được áp dụng để định giá các tài sản mà việc so sánh với những tài sản tương tự gặp khó khăn do giá trị của tài sản chủ yếu phụ thuộc vào khả năng sinh lợi của tài sản như khách sạn, nhà hàng, rạp chiếu bóng v.v..; và (vi) các phương pháp thẩm định giá theo thông lệ quốc tế khác (nếu có) phải được Bộ Tài chính chấp thuận.

Tuy nhiên, vẫn còn có nhiều ý kiến khác nhau về bản dự thảo này và bản thảo này mới chỉ đề cập đến một tài sản SHTT đó là nhãn hiệu, nên nếu được thông qua thì chắc chắn các quy định này không thể giải quyết được triệt để vấn đề định giá của các loại tài sản SHTT khác.

Bên cạnh đó, Bộ Tài chính đang tiếp tục soạn thảo chuẩn mực kế toán – tiêu chuẩn số 13 liên quan đến thẩm định giá tài sản vô hình. Đối tượng được quy định trong bản dự thảo này là tài sản vô hình phải thỏa mãn một số điều kiện nhất định như không có hình thái vật chất nhưng có thể nhận biết được, được pháp luật công nhận và bảo vệ, được sở hữu hợp pháp và có thể chuyển giao quyền sở hữu theo pháp luật, có bằng chứng hữu hình về sự tồn tại của tài sản vô hình (như hợp đồng, giấy chứng nhận, hồ sơ đăng ký, đĩa mềm máy tính v.v..), có khả năng tạo thu nhập cho người có quyền sở hữu, giá trị có thể định lượng được và có vòng đời xác định. Bản dự thảo đưa ra ba phương pháp chính để thẩm định tài sản vô hình là phương pháp chi phí, phương pháp so sánh và phương pháp thu nhập.

Như vậy, so với các phương pháp áp dụng phổ biến trên thế giới được áp dụng để định giá quyền SHTT, bản dự thảo về chuẩn mực kế toán – tiêu chuẩn số 13 cũng đưa ra các phương pháp định giá áp dụng tương tự. Tuy nhiên, việc lựa chọn phương pháp nào cho phù hợp với việc định giá giá trị từng tài sản SHTT khác nhau không phải là đơn giản, mà phụ thuộc rất nhiều vào các điều kiện và mục đích áp dụng của chủ sở hữu quyền SHTT cũng như kinh nghiệm của chuyên gia thẩm định trong lĩnh vực này. Việc thiếu các quy định pháp luật hướng dẫn trong lĩnh vực này đã làm cho các giao dịch dân sự liên quan đến việc chuyển nhượng, cấp li xăng quyền SHTT thường mang tính ước lượng về phí bản quyền, còn đối với việc sử dụng quyền SHTT làm tài sản bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự là không thể thực hiện được.

Từ các hạn chế và vướng mắc trên, chúng tôi đề xuất một số kiến nghị sau:

Thứ nhất, Bộ Tài chính cần thiết và nhanh chóng ban hành các hướng dẫn cụ thể về việc thẩm định giá trị tài sản vô hình để làm cơ sở cho các doanh nghiệp tham khảo xây dựng giá chuyển nhượng, li-xăng quyền SHTT hợp lý trong các giao dịch dân sự, kinh tế cũng như để cho các cơ quan có thẩm quyền giải quyết tranh chấp có căn cứ để tính toán mức độ bồi thường thiệt hại trong các tranh chấp liên quan đến quyền SHTT. 

Thứ hai, Chính phủ cần ban hành một nghị định riêng hoặc bổ sung nghị định 163/2006/NĐ-CP về giao dịch bảo đảm hướng dẫn điều 322 Bộ luật Dân sự liên quan đến việc sử dụng quyền tài sản, cụ thể ở đây là quyền SHTT làm tài sản bảo đảm trong các giao dịch dân sự.

Thứ ba, chúng ta nên có các tổ chức định giá chuyên biệt có hiểu biết về tài sản SHTT để giúp tư vấn cho các doanh nghiệp xác định được giá trị tài sản SHTT của họ trong các giao dịch liên quan. Hoặc là cơ quan đăng ký SHTT có thể thiết lập một bộ phận chuyên trách hoặc một trang web online đưa ra các hướng dẫn về phương pháp định giá đối với từng loại tài sản SHTT để các chủ sở hữu quyền SHTT có thể tham khảo và đánh giá được giá trị tài sản SHTT một cách nhanh chóng, từ đó chúng ta mới có thể xây dựng được một thị trường khoa học và công nghệ minh bạch.

Thứ tư, bản thân các công ty nên có sự nhận thức đầy đủ và toàn diện hơn trong việc xây dựng danh mục tài sản SHTT và xác định đây là một nguồn lực không nhỏ trong khối tài sản của công ty, từ đó các công ty cần có chiến lược quản lý các rủi ro về quyền SHTT và tiến hành đăng ký bảo hộ các đối tượng SHTT càng sớm càng tốt./.

Vũ Anh Thư, ThS, Khoa Quốc tế học, Đại học KHXH và Nhân văn
Nguồn: http://www.nclp.org.vn/thuc_tien_phap_luat/111inh-gia-tai-san-so-huu-tri-tue-trong-giao-dich-dan-su


[1]Ví dụ: Năm 2010, giá trị toàn cầu của nhãn hiệu Coca-Cola được định giá là 70.452 triệu US$, nhãn hiệu IBM là 64.727 triệu US$, Microsoft là 60.895 triệu US$, (http://www.interbrand.com), giá trị thu nhập ròng của các hãng dược phẩm liên quan đến chuyển giao sáng chế tăng trung bình khoảng 8% mỗi năm.

[2]Hình thức cấp khoản vay có bảo đảm bằng tài sản SHTT ngày càng phổ biến trong hoạt động âm nhạc, công nghệ cao, dược phẩm hoặc hoạt động dựa vào Internet. Chứng khoán hóa tài sản SHTT là một trong các hình thức tài trợ vốn, thông qua việc nhà đầu tư mua trái phiếu do một công ty chuyên biệt về chứng khoán hóa phát hành và nhà đầu tư có được sự bảo đảm bằng dòng tiền thu được trong tương lai khi chủ sở hữu tài sản SHTT cấp quyền sử dụng (li-xăng) sáng chế, nhãn hiệu, bí mật thương mại hoặc các tác phẩm âm nhạc và các quyền liên quan của nhạc sĩ cho một bên thứ ba.

[3]Xem “Valuation and Exploitation of Intellectual Property”, STI Working paper 2006/5, Shigeki Kamiyama, Jerry Sheehan, Catalina Martinez, http://www.oecd.org/sti/working-papers.

[4]Xem chú thích 6.

[5]Xem Tạ Minh Phương, “Định giá tài sản vô hình”, Thời báo Kinh tế Sài gòn online, thứ Ba, 1/6/2004.

[6]Để xác định một thị trường SHTT hoạt động thì thị trường đó phải đáp ứng ba điều kiện: (i) các sản phẩm được bán trên thị trường có tính tương đồng; (ii) người mua và người bán có thể tìm thấy nhau vào bất kỳ lúc nào; và (iii) giá cả được công khai (Xem Chuẩn mực số 04 ban hành kèm theo Quyết định 149/2001/QĐ-BTC ngày 31/12/2001 về việc ban hành và công bố bốn chuẩn mực kế toán Việt Nam).

[7]Điều 5 Nghị định 102/2010/NĐ-CP.