DN Việt Nam đang tự làm khó mình
Người Việt Nam đang lo ngại sâu sắc về USD trong bối cảnh hệ thống tài chính của nước Mỹ tiếp tục ngập sâu trong rắc rối.

Lãng phí ưu đãi

Tham gia Khu vực mậu dịch tự do ASEAN (CEPT/AFTA), Việt Nam có một lợi thế đáng kể: 6 thành viên cũ cam kết hạ giá thuế suất xuống 0-5% trước Việt Nam 3 năm. Đây là cơ hội rất thuận lợi nhằm đẩy mạnh hàng xuất khẩu của Việt Nam vào thị trường các nước này. Đồng thời, để thu hẹp khoảng cách kinh tế giữa các quốc gia thành viên ASEAN, 6 thành viên cũ sẽ dành hệ thống ưu đãi hội nhập ASEAN (AISP) cho các nước mới gia nhập, trong đó có Việt Nam. Các mặt hàng này sẽ được hưởng ngay mức thuế ưu đãi, không phải chờ đến khi chuyển vào danh mục cắt giảm thuế. Tuy nhiên, những ưu đãi này hiện các doanh nghiệp Việt Nam hầu như vẫn chưa tận dụng được.

Một ví dụ rõ nhất là, những mặt hàng được nhận ưu đãi trên khi làm thủ tục xuất nhập khẩu phải sử dụng Form D. Nhưng theo Bộ trưởng Bộ Công Thương Vũ Huy Hoàng, tỷ lệ sử dụng mẫu này của các doanh nghiệp Việt Nam chưa đến 10%. Từ khi mức giảm thuế được áp dụng (ngày 1-1-2006) thì kim ngạch hàng xuất khẩu của ASEAN vào nước ta luôn tăng rất cao, từ 9,3 tỷ đô-la Mỹ năm 2005 lên 12,5 tỷ năm 2006 và 15,9 tỷ năm 2007, nghĩa là mỗi năm nhập khẩu từ nhóm thị trường này tăng 3 tỷ. Trong khi đó, xuất khẩu của Việt Nam vào khu vực này lại tăng thấp, trung bình chỉ 1 tỷ đô-la mỗi năm (năm 2005 là 5,7 tỷ, năm 2006 là 6,4 tỷ và năm 2007 là 7,8 tỷ). Điều này khiến nhập siêu của Việt Nam với ASEAN luôn tăng cao: từ 3,6 tỷ đô-la năm 2005 lên 6,2 tỷ năm 2006 và 8 tỷ năm 2007. Như vậy, tuy cùng hoạt động thương mại trong một khu vực tự do, doanh nghiệp của Việt Nam đã không theo kịp các nước thành viên khác.

Bộ trưởng Hoàng cho biết thêm, tình hình tại các khu vực mậu dịch tự do ASEAN với các nước Trung Quốc và Hàn Quốc cũng tương tự.

Yếu trong cạnh tranh

Để được hưởng ưu đãi trong AFTA, hàng hóa của doanh nghiệp Việt Nam phải nội địa hóa từ 40% trở lên, song hiện nay nhiều mặt hàng của Việt Nam chưa đạt được tỷ lệ này. Sự yếu kém của công nghiệp phụ trợ khiến Việt Nam đang phải nhập khẩu quá nhiều nguyên liệu đầu vào.

Hơn nữa, Việt Nam cũng như các nước thành viên ASEAN khác đang có cơ cấu mặt hàng xuất khẩu khá tương đồng (chủ yếu là nông sản, hải sản, khoáng sản thô, sơ chế giá trị thấp với hàm lượng giá trị gia tăng không cao) nên việc thâm nhập của doanh nghiệp Việt Nam vào khu vực này gặp nhiều khó khăn. Những mặt hàng này tuy hầu hết được hưởng thuế nhập khẩu từ CEPT, nhưng giá trị thấp và giá cả không ổn định.

Bên cạnh những yếu kém nội tại, cũng có những hạn chế từ công tác thương mại khiến các doanh nghiệp còn chưa tận dụng được tối đa những ưu đãi trên. Theo ông Hoàng, cơ quan chức năng chưa thực sự nắm bắt được các cơ hội trong việc đẩy mạnh xuất khẩu vào nhóm thị trường này. Một số Thương vụ Việt Nam chưa hiểu kỹ những thành quả trong đàm phán về mở cửa thị trường để cung cấp thông tin cho doanh nghiệp một cách kịp thời. Công tác thông tin, nghiên cứu, tư vấn, tham mưu, nhất là đối với những vấn đề mang tính chính sách và chiến lược chưa được các thương vụ đặt đúng tầm mức…

Tận dụng rào cản hợp lệ

Sử dụng các rào cản thương mại được phép để hạn chế nhập khẩu hàng hóa là một biện pháp đang được nhiều nước áp dụng. Tuy nhiên, giải pháp này lại chưa được thực hiện có hiệu quả ở Việt Nam, nhất là trong bối cảnh kiềm chế nhập siêu đang khó khăn. Việt Nam hiện đang nhập siêu lớn do nhiều nguyên nhân, trong đó có nguyên nhân giảm thuế theo cam kết WTO, khiến hàng hóa của các nước vào nhiều. Đặc biệt, nhập siêu tăng mạnh sau khi Việt Nam đã là thành viên WTO. Nếu như từ 2006 trở về trước nhập siêu thường dưới 5 tỷ đô-la, năm 2007 là 12,3 tỷ, thì chỉ riêng 11 tháng năm 2008, nhập siêu cả nước đã là 18 tỷ đô-la). Hơn nữa, Việt Nam đang nhập siêu chủ yếu từ châu Á, nhất là các nước trong khu vực. Trong khi hơn 80% kim ngạch nhập khẩu là nguyên nhiên liệu, máy móc, thiết bị thì việc nhập siêu từ nhóm các nước phát triển trung bình thuộc châu Á đang là mối lo ngại thực sự của công nghệ nước nhà. Nguyên Trưởng đoàn đàm phán Việt Nam gia nhập WTO, ông Lương Văn Tự cho rằng, Việt Nam cần tận dụng tối đa những gì mà WTO không cấm để phát triển thị trường trong nước cũng như thâm nhập thị trường nước ngoài. TS Vũ Thị Bạch Tuyết – Học viện Tài chính cũng nhìn nhận, thời gian qua, việc kiểm soát hàng nhập khẩu ở Việt Nam còn quá sơ sài, quá dễ dãi với nhiều loại hàng hóa. Trong tương lai, hàng rào kỹ thuật sẽ là biện pháp duy nhất được sử dụng nhằm bảo vệ nền kinh tế. Vì vậy, không chỉ sử dụng hàng rào này trong việc kiểm soát hàng nhập khẩu mà còn nên sử dụng chúng để kiểm soát tất cả hàng hóa lưu thông trên thị trường.

Thực tế cho thấy, trong khi chúng ta rất vất vả để đạt được những thỏa thuận trong quá trình đàm phán các hiệp định thương mại song phương và đa phương thì các doanh nghiệp của chúng ta lại chưa tận dụng tốt những ưu đãi này. Đây là một sự lãng phí đáng tiếc, tạo ra nhiều khó khăn hơn cho chính các doanh nghiệp khi mà mức độ hội nhập của nền kinh tế ngày càng sâu rộng.  

Tính hội nhập của doanh nghiệp Việt Nam chưa cao

Chúng ta tham gia Khu vực Mậu dịch tự do ASEAN đã lâu nhưng thực chất chúng ta mở cửa thị trường và các nước mở cửa thị trường cho chúng ta mới từ năm 2006. Từ đó, 98% các dòng thuế đã được cắt giảm xuống còn 0% đến 5%. Trong thời gian qua, thương mại của Việt Nam và các nước ASEAN đã có những thay đổi đáng lưu ý. Tuy nhiên, sự tăng trưởng xuất khẩu của chúng ta với các nước này chưa được như mong muốn. Thực tế này đang khiến chúng ta phải xem xét lại việc vận dụng các cơ hội do hội nhập mang lại, đặc biệt là cơ hội mang lại cho doanh nghiệp – đối tượng tham gia trực tiếp vào hội nhập kinh tế quốc tế.

(Trích lời Thứ trưởng Bộ Công Thương Nguyễn Thành Biên)

Hà Nguyễn
Nguồn:  Báo Điện tử Diễn đàn doanh nghiệp