Khó kiểm soát hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh, độc quyền
Người Việt Nam đang lo ngại sâu sắc về USD trong bối cảnh hệ thống tài chính của nước Mỹ tiếp tục ngập sâu trong rắc rối.

Cấm hình thành vị trí thống lĩnh, độc quyền?

Doanh nghiệp được xem là có vị trí thống lĩnh, độc quyền khi có sức mạnh thị trường và đáp ứng quy định chung của pháp luật. Đối với doanh nghiệp đơn lẻ phải có thị phần từ 30% trở lên hoặc có thể gây hạn chế cạnh tranh đáng kể tới hoạt động trên thị trường. Nhóm doanh nghiệp cùng hoạt động trong 1 lĩnh vực được xem là có vị trí thống lĩnh khi 2 doanh nghiệp có tổng thị phần kết hợp là 50% trở lên; 65% trở lên đối với 3 doanh nghiệp và tổng thị phần kết hợp là 75% trở lên đối với 4 doanh nghiệp. Ngoài ra, pháp luật cũng ghi nhận trường hợp chỉ duy nhất doanh nghiệp đó hoạt động trong lĩnh vực cụ thể được coi là có vị trí thống lĩnh, độc quyền.

Theo nhiều chuyên gia, việc hình thành nhóm doanh nghiệp có vị trí thống lĩnh, độc quyền thường được thể hiện dưới hình thức tập trung kinh tế như trường hợp sáp nhập, mua lại, hợp nhất (M&A). Thường thì sau mỗi thương vụ M&A, các doanh nghiệp sẽ có vị trí thống lĩnh trên thị trường và chỉ trở thành đối tượng cần kiểm soát khi có tổng thị phần từ 30% đến 50%.

Trưởng ban Giám sát và Quản lý cạnh tranh, Cục Quản lý cạnh tranh, Trần Phương Lan cho biết: “Dưới góc độ của Luật Cạnh tranh, việc hình thành doanh nghiệp có vị trí độc quyền trên thị trường không bị cấm cũng như những quy định pháp lý dẫn tới hình thành doanh nghiệp có vị trí thống lĩnh, độc quyền là hoàn toàn phù hợp. Vấn đề quan trọng là khi hình thành vị trí đó, doanh nghiệp có lạm dụng hay không và cơ chế kiểm soát hành vi, hoạt động cạnh tranh của doanh nghiệp trên thị trường cũng như sự phối hợp hoạt động kiểm soát giữa các cơ quan nhà nước như thế nào mới là điều đáng lưu tâm”.

Hoàn thiện hơn để kiểm soát hiệu quả

Doanh nghiệp có vị trí thống lĩnh, độc quyền trên thị trường sẽ trở thành đối tượng kiểm soát của Luật Cạnh tranh bởi giá cả do doanh nghiệp này đưa ra bao giờ cũng cao hơn và đứng ở một góc độ nào đó sản lượng sẽ thấp hơn thị trường có nhiều doanh nghiệp cạnh tranh tham gia. Điều này dễ dẫn tới tổn thất về phúc lợi xã hội và nguồn lực xã hội sẽ không được sử dụng một cách tối ưu. Hơn nữa, các doanh nghiệp thường có xu hướng lạm dụng sức mạnh thị trường đối với việc tạo ra rào cản và gần như lấp thị trường để các đối thủ cạnh tranh khác khó có thể gia nhập vào.

Theo báo cáo thường niên của Cục Quản lý Cạnh tranh, cho đến nay, Cục mới chỉ có quyết định điều tra 6 vụ việc về hạn chế cạnh tranh, trong đó có 3 vụ việc liên quan đến hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh, vị trí độc quyền và 3 vụ việc liên quan đến hành vi liên kết độc quyền nhóm. Có vẻ, càng ngày, các hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh, độc quyền càng phức tạp hơn! Tháng 11.2011, Hà Nội Telecom đã có văn bản kiến nghị về việc vi phạm Luật Cạnh tranh của Viettel vì cho rằng việc chuyển giao băng tần 3G của EVN Telecom cho Viettel là tạo điều kiện cho Viettel trở thành “doanh nghiệp có vị trí thống lĩnh trên thị trường viễn thông Việt Nam”. Cuối năm 2011, thị trường lịch xuất hiện nhiều yếu tố bất ngờ khi Hội Xuất bản Việt Nam muốn quay trở lại thời “độc quyền” bằng việc đặt ra định mức 16,2 triệu bloc lịch cho cả nước và áp đặt mỗi nhà xuất bản không được làm quá 270.000 bloc lịch.

Theo ông Cao Xuân Hiến, Trưởng ban Điều tra các vụ việc hạn chế cạnh tranh, nguyên nhân khiến số lượng vụ việc được giải quyết còn khiêm tốn là do đặc trưng tương đối phức tạp. Trong khi đó, Luật lại chỉ giới hạn cho phép các chuyên gia điều tra trong vòng 180 ngày, trong trường hợp có tình tiết phức tạp sẽ gia hạn thêm 120 ngày tức là tổng số chỉ có 300 ngày, vì vậy phải rất cẩn thận sàng lọc thông tin rồi mới tiến hành điều tra vụ việc.

 Hơn nữa, tại nước ngoài sau khi các vụ việc đã được điều tra giải quyết, nguy cơ tiếp tục bị kiện rất ít, nhưng ở Việt Nam trong 3 vụ việc giải quyết có đến 2/3 vụ phải xem xét đến tận tòa án. Đặc biệt là vụ Vinapco từ khi điều tra cho đến khi kết thúc xử lý vụ việc kéo dài tới 4 năm, từ cấp sơ thẩm, hội đồng xử lý đến hội đồng cạnh tranh sau đó lên tòa sơ thẩm, tòa phúc thẩm.

Bên cạnh những nguyên nhân đó, nguồn nhân lực còn quá ít và chưa hoàn thiện, năng lực trình độ của những người làm công tác quản lý, điều tra giám sát còn hạn chế đã cho thấy trên thực tế xảy ra nhiều hành vi vi phạm nhưng số lượng xử lý còn rất khiêm tốn. Vì vậy, cần hoàn thiện hơn nữa công tác quản lý, kiểm soát để đưa hoạt động của kinh tế đi vào lành mạnh, bảo vệ doanh nghiệp chân chính và người tiêu dùng – Theo Phó cục trưởng Cục Quản lý Cạnh tranh, Nguyễn Phương Nam.

Thao Giang
Nguồn: Báo điện tử Đại biểu nhân dân