Khoanh vùng chủ thể quyền và chủ thể có trách nhiệm
Người Việt Nam đang lo ngại sâu sắc về USD trong bối cảnh hệ thống tài chính của nước Mỹ tiếp tục ngập sâu trong rắc rối.

Bàn về chủ thể quyền

Nhiều ý kiến cho rằng, Dự thảo Luật đã bỏ sót chủ thể quyền tiếp cận thông tin, khi quy định “mọi công dân đều có quyền tiếp cận thông tin” mà không mở rộng quyền đối với tổ chức. Trong khi, nhiều tổ chức phi chính phủ, viện nghiên cứu và đặc biệt là các cơ quan báo chí đều có nhu cầu được cung cấp thông tin. Câu hỏi đặt ra là phải chăng dự thảo đã loại bỏ quyền của nhóm chủ thể này? Tuy nhiên, nhiều chuyên gia lý giải rằng, Dự thảo Luật bảo đảm quyền cơ bản của con người và một khi đó là quyền con người được hưởng thì lẽ đương nhiên nhiều người hợp thành các tổ chức được thành lập theo pháp luật Việt Nam cũng được quyền tiếp cận thông tin, nếu thông tin đó phục vụ cho cuộc sống và hoạt động của các thành viên trong tổ chức.

Khoản 4, điều 1 Dự thảo Luật đề cập, người nước ngoài sinh sống, làm việc hợp pháp trên đất nước Việt Nam cũng có quyền yêu cầu cung cấp thông tin liên quan đến quyền và lợi ích của mình. Đây được xem là điểm tiến bộ của Dự thảo Luật, góp phần mở rộng tối đa quyền tiếp cận của người dân. Tuy nhiên, trường hợp với người nước ngoài có quyền lợi hợp pháp nhưng không sinh sống tại Việt Nam, vậy có quyền yêu cầu tiếp cận thông tin hay không, cũng là câu hỏi được đặt ra? 

Theo bà Ngô Thị Thu Hà – Phó giám đốc Trung tâm Hỗ trợ giáo dục và nâng cao năng lực cho phụ nữ CEPEW, dự thảo cũng bỏ sót đối tượng là tổ chức và đại diện cộng đồng dân cư, trong khi đây là những chủ thể được quyền tiếp cận thông tin theo quy định của pháp luật hiện hành. Nếu như không đưa đối tượng này vào luật thì vô hình trung đây sẽ là điểm thụt lùi về chủ thể tiếp cận thông tin. Quy định các tổ chức, cộng đồng dân cư được quyền tiếp cận thông tin sẽ góp phần giảm bớt gánh nặng về cơ sở hạ tầng, chi phí cho cơ quan, tổ chức có trách nhiệm cung cấp thông tin. Bởi nếu mỗi cá nhân đều yêu cầu tiếp cận thông tin thì Nhà nước sẽ mất nhiều công sức, kinh phí hơn so với việc tổ chức, đại diện cộng đồng dân cư tiếp cận và phổ biến lại cho người dân.

Không ít chuyên gia cho rằng, để thể hiện được đầy đủ trách nhiệm của Nhà nước đối với nhóm yếu thế, dễ bị tổn thương, dự thảo cần quy định tiếp cận thông tin cũng là quyền của nhóm bị hạn chế tự do. Theo dự thảo, những người bị tạm giam, tạm giữ và những người đang chấp hành hình phạt tù, những người đang chấp hành biện pháp xử lý vi phạm hành chính ở trong trại giáo dưỡng, trại cai nghiện bắt buộc do tòa quyết định, là nhóm bị hạn chế tiếp cận thông tin. Tuy nhiên khi đối chiếu với Bộ luật Hình sự, Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật, hay Luật Xử lý vi phạm hành chính, không hề có quy định nào hạn chế quyền tiếp cận thông tin của nhóm đối tượng này. Những người bị hạn chế tự do cũng là nhóm người dễ bị tổn thương, cần phải tạo điều kiện cho họ được quyền tiếp cận thông tin, bao gồm cả thông tin về người bào chữa cho đối tượng bị tạm giam, tạm giữ. Bởi theo quy định của pháp luật thì những người này không phải là tội phạm cho tới khi Tòa án ra văn bản tuyên có tội, vì vậy mọi quyền cơ bản của họ vẫn được bảo đảm.

Điểm hạn chế của dự thảo còn thể hiện ở quy định, người không có hoặc mất năng lực hành vi dân sự thì tiếp cận thông tin sẽ thông qua người đại diện theo pháp luật. Song đối với chủ thể bị mất đi một phần năng lực hành vi dân sự như người khiếm thính, khiếm thị thì có phải qua người đại diện theo pháp luật hay không, vẫn chưa rõ. Quy định chung chung này sẽ khiến những người yếu thế, dễ bị tổn thương không được tự mình thực hiện quyền.

Làm rõ trách nhiệm

Trong quá trình xây dựng dự thảo, cùng với chủ thể quyền tiếp cận thông tin, cơ quan, tổ chức nào có trách nhiệm cung cấp thông tin cũng là nội dung còn nhiều ý kiến thảo luận. Có chuyên gia cho rằng, chủ thể phải cung cấp thông tin là tất cả cơ quan nhà nước, bao gồm cơ quan lập pháp, hành pháp và tư pháp, bởi đây là những cơ quan thực hiện quyền lực nhà nước, nắm giữ nhiều thông liên quan tới đời sống xã hội, quyền và lợi ích của công dân, tổ chức. Lại có quan điểm cho rằng, chủ thể phải cung cấp thông tin chỉ giới hạn ở cơ quan hành chính nhà nước, bởi đây là các cơ quan tạo ra và nắm giữ nhiều thông tin nhất và các thông tin này cũng liên quan trực tiếp nhất đến người dân. Trong khi đó, theo một ý kiến khác, chủ thể phải cung cấp thông tin là tất cả cơ quan nhà nước và các tổ chức có sử dụng tài sản, ngân sách nhà nước bao gồm cả tổ chức chính trị – xã hội, tổ chức chính trị xã hội – nghề nghiệp, tổ chức sự nghiệp dịch vụ công, doanh nghiệp nhà nước, quỹ được thành lập theo quy định của pháp luật. Đây cũng là quan điểm chung của nhiều nước trên thế giới.

Bà Ngô Thị Thu Hà – Phó giám đốc CEPEW nhận định, dự thảo cần mở rộng trách nhiệm cho cả doanh nghiệp, tổ chức sử dụng vốn nhà nước, tài nguyên quốc gia – những đối tượng này cũng cần phải có nghĩa vụ cung cấp thông tin liên quan tới bảo đảm tính mạng, an toàn, sức khỏe của người dân. Điều này hoàn toàn phù hợp với thực tế hiện nay khi vấn đề về môi trường, dược phẩm, an toàn vệ sinh đều có quan hệ mật thiết tới hoạt động của doanh nghiệp. Mặt khác, quy định tổ chức, doanh nghiệp phải cung cấp thông tin cũng là cách để giảm gánh nặng cho cơ quan nhà nước, là chiếc “cầu nối” trực tiếp để các cá nhân quan tâm có thể yêu cầu doanh nghiệp, tổ chức cung cấp thông tin cần thiết.

Tuy nhiên, LS Nguyễn Hưng Quang, Trưởng văn phòng Luật sư NH Quang và cộng sự cho rằng, quy định doanh nghiệp cũng phải cung cấp thông tin có ảnh hưởng lớn tới bí mật doanh nghiệp, việc đưa doanh nghiệp là đối tượng của khu vực tư vào trong luật công (Dự thảo Luật Tiếp cận thông tin) có xung đột với Bộ luật Dân sự hay không và cơ chế hoạt động như thế nào, cần phải tính tới và quy định rõ để bảo đảm giám sát thực thi có hiệu quả.

Dương Cầm
Nguồn: Báo điện tử Đại biểu nhân dân