Khung pháp lý về quản lý rừng đặc dụng chưa phù hợp
Người Việt Nam đang lo ngại sâu sắc về USD trong bối cảnh hệ thống tài chính của nước Mỹ tiếp tục ngập sâu trong rắc rối.

Theo quy định tại Điều 3 Nghị định số 119/2006/NĐ-CP ngày 16.10.2006 về tổ chức và hoạt động của Kiểm lâm: “Đối với vườn quốc gia có diện tích từ 7.000ha trở lên, khu bảo tồn thiên nhiên, khu rừng đặc dụng khác có diện tích từ 15.000ha trở lên, khu rừng phòng hộ đầu nguồn có diện tích từ 20.000ha trở lên có nguy cơ bị xâm hại cao, có thể thành lập Hạt Kiểm lâm rừng đặc dụng, Hạt Kiểm lâm rừng phòng hộ theo quy định của pháp luật”. Tuy nhiên, trong Nghị định này không quy định rõ Hạt Kiểm lâm rừng đặc dụng và Hạt Kiểm lâm rừng phòng hộ (do địa phương quản lý) trực thuộc Chi cục Kiểm lâm hay trực thuộc Ban quản lý rừng đặc dụng và Ban quản lý rừng phòng hộ. Thực tế thì hiện nay có những nơi Hạt Kiểm lâm rừng đặc dụng trực thuộc Chi cục Kiểm lâm nhưng cũng có nơi Hạt Kiểm lâm rừng đặc dụng lại trực thuộc Vườn quốc gia (Ban quản lý rừng đặc dụng). Với thực tế đó thì việc Chính phủ ban hành Nghị định số 117/2010/NĐ-CP, ngày 24.12.2010 về tổ chức quản lý hệ thống rừng đặc dụng đã đáp ứng nhu cầu về việc xác lập một khung pháp lý riêng để quản lý rừng đặc dụng. Tuy nhiên, nội dung của Nghị định này còn những quy định chưa hợp lý.

Khoản 1 Điều 28 Nghị định số 117/2010/NĐ-CP quy định: “Thành lập Hạt Kiểm lâm tại vườn quốc gia; đối với khu dự trữ thiên nhiên, khu bảo tồn loài, sinh cảnh có diện tích từ 15.000 ha trở lên”. Mặt khác, theo quy định tại Điều 26 của Nghị định thì “Đối với khu rừng đặc dụng có Hạt Kiểm lâm, Giám đốc Ban quản lý đồng thời là Hạt trưởng Hạt Kiểm lâm”. Nhưng theo quy định tại Điều 50 và Điều 61 của Luật Bảo vệ và phát triển rừng thì các khu rừng đặc dụng là vườn quốc gia, khu bảo tồn thiên nhiên phải có Ban quản lý, “Ban quản lý khu rừng đặc dụng là tổ chức sự nghiệp do cơ quan nhà nước có thẩm quyền thành lập” và Ban quản lý rừng đặc dụng là “chủ rừng”.

Như vậy có thể thấy, quy định Hạt Kiểm lâm rừng đặc dụng trực thuộc Ban quản lý rừng đặc dụng đã bộc lộ sự mâu thuẫn và bất hợp lý. Thứ nhất là về vị trí pháp lý. Hiện nay tất cả các đơn vị sự nghiệp công lập và tư thục đều do các cơ quan quản lý hành chính nhà nước quyết định thành lập hoặc cho phép thành lập, trực thuộc về mặt tổ chức (đối với đơn vị sự nghiệp công lập) hoặc chịu sự quản lý nhà nước (đối với đơn vị sự nghiệp tư thục) của các cơ quan quản lý hành chính nhà nước trong lĩnh vực đó. Trong khi đó Hạt Kiểm lâm là cơ quan quản lý hành chính nhà nước (có quyền lực nhà nước) trong lĩnh vực quản lý và bảo vệ rừng, có thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính. Do đó, việc một cơ quan hành chính nhà nước lại trực thuộc một đơn vị sự nghiệp sẽ là điều bất ổn trong mối quan hệ về tổ chức thực hiện quyền lực nhà nước.

Thứ hai, từ thực tế cho thấy, hiện nay ở những tỉnh có vườn quốc gia (do tỉnh quản lý) có Hạt Kiểm lâm rừng đặc dụng trực thuộc Ban quản lý vườn quốc gia đã bộc lộ nhiều hạn chế trong hoạt động. Tuy cùng sắc áo nhưng không phải  con chung trong một nhà nên có những nơi mối quan hệ giữa Hạt Kiểm lâm rừng đặc dụng với Hạt Kiểm lâm cấp huyện luôn trong tình trạng “như sừng với đuôi”. Trong khi đó, Chi cục Kiểm lâm thì không quản lý về mặt tổ chức đối với Hạt Kiểm Lâm rừng đặc dụng nên rất khó để quản lý công tác chuyên môn.

Thứ ba, theo quy định của Luật Bảo vệ và phát triển rừng thì các chủ rừng (trong đó có Ban quản lý rừng đặc dụng) có trách nhiệm bảo vệ rừng của mình; xây dựng và thực hiện các phương án, biện pháp bảo vệ hệ sinh thái rừng; phòng, chống chặt phá rừng; phòng, chống săn, bắt, bẫy động vật rừng trái phép; phòng cháy, chữa cháy rừng… Chủ rừng không thực hiện, thực hiện không đúng, không đầy đủ trách nhiệm mà để mất rừng được Nhà nước giao, cho thuê thì phải chịu trách nhiệm theo quy định của pháp luật. Theo quy định tại Nghị định số 99/2009/NĐ-CP ngày 2.11.2009 về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực quản lý rừng, bảo vệ rừng và quản lý lâm sản thì có rất nhiều loại hành vi vi phạm của chủ rừng bị xử phạt vi phạm hành chính. Mặt khác, theo nguyên tắc phân định thẩm quyền xử phạt theo lãnh thổ thì các vi phạm trong địa phận rừng đặc dụng sẽ thuộc thẩm quyền xử phạt của Hạt Kiểm lâm rừng đặc dụng. Như vậy, với quy định như đã nêu trên khi chủ rừng là Ban quản lý rừng đặc dụng vi phạm thì Hạt trưởng Hạt Kiểm lâm có “tự xử” mình hay không (vì theo quy định nêu trên thì Giám đốc Ban quản lý đồng thời là Hạt trưởng Hạt Kiểm lâm)?

Để có sự độc lập giữa chủ rừng và cơ quan quản lý nhà nước, nhằm tạo ra mối quan hệ chế ước lẫn nhau, bảo đảm nâng cao hiệu quả công tác quản lý và bảo vệ rừng đặc dụng, cần thiết phải xem xét lại quy định nêu trên.

Phạm Thái Quý
Nguồn: Báo điện tử Đại biểu nhân dân