Lưỡng phân nền kinh tế – nguy cơ thời hội nhập
Người Việt Nam đang lo ngại sâu sắc về USD trong bối cảnh hệ thống tài chính của nước Mỹ tiếp tục ngập sâu trong rắc rối.

Theo các nhà kinh tế, hàng hóa trong một nền kinh tế thường được chia thành hai nhóm: thương mại được và không thương mại được. Hàng thương mại được là những hàng hóa dễ dàng xuất nhập khẩu qua lại giữa các nước như điện thoại, gạo, cà phê. Và khi cầu hàng hóa tăng sẽ được bù đắp bằng nhập khẩu và không làm tăng giá.

Còn hàng hóa không thương mại được là hàng hóa hầu như không xuất khẩu được từ nước này qua nước khác mặc dù giá hàng hóa đó ở nước khác là cạnh tranh hơn. Ví dụ dịch vụ cắt tóc của Việt Nam rẻ hơn ở Mỹ 5 lần nhưng Việt Nam không thể xuất khẩu dịch vụ cắt tóc sang Mỹ. Các loại hình dịch vụ như cung cấp điện, nước, hạ tầng, phân phối, y tế… và những hàng hóa có chi phí vận tải lớn thường được xếp vào nhóm hàng hóa không thương mại được.

Với nhóm hàng này, khi cầu hàng hóa tăng thì không làm tăng nhập khẩu mà chỉ làm tăng giá.

Khi những ngành có lợi thế so sánh cạnh tranh được sẽ tạo việc làm và thu nhập cho những người làm trong khu vực này, qua đó sẽ làm tăng cầu hàng hóa không thương mại được và làm tăng giá những hàng hóa này.

Như vậy đối với những ngành không có lợi thế so sánh sẽ phải đối mặt với hai bất lợi: phải cạnh tranh với hàng nhập khẩu có lợi thế hơn và chi phí cho đầu vào sản xuất ngày càng tăng do giá điện, nước, vận tải, phân phối… tăng.

Kết quả là các ngành này ngày càng thu hẹp và dần bị hàng nhập khẩu chèn ép. Lao động trong các ngành này sẽ mất việc và buộc phải chuyển dịch sang: (i) ngành có lợi thế so sánh; (ii) ngành không thương mại được; và (iii) khu vực phi chính thức nhỏ lẻ.

Nếu những ngành có lợi thế so sánh và ngành không thương mại được không đủ khả năng hấp thụ lao động dư thừa thì lao động dư thừa sẽ phải rơi vào khu vực phi chính thức nhỏ lẻ không có khả năng cạnh tranh. Khi đó, nền kinh tế rơi vào tình trạng lưỡng phân: một khu vực hiện đại cạnh tranh trên thị trường toàn cầu và một khu vực lạc hậu nhỏ lẻ nhưng lại là khu vực tạo việc làm cho một số đông lao động. Điều này sẽ tạo ra nghịch lý là một nền kinh tế thu hút rất nhiều vốn đầu tư nước ngoài, xuất khẩu tăng mạnh nhưng GDP hầu như không tăng.

Thu nhập bình quân nhân khẩu của năm nhóm thu nhập ngành càng giãn ra và đặc biệt giãn mạnh khi chúng ta gia nhập WTO vào năm 2007.

Mexico là một ví dụ điển hình cho tình trạng này. Từ năm 1994, Mexico tham giam Hiệp định Thương mại tự do Bắc Mỹ (NAFTA) và xuất khẩu từ Mexico sang Mỹ từ năm 1994-2011 tăng 6 lần nhưng năng suất lao động chỉ tăng 0,8%/năm và GDP chỉ tăng 1,3%/năm. Tệ hơn là tiền lương của khu vực bất lợi giảm 2,4% một năm.

Điều tương tự cũng xảy ra với nước Mỹ. Thu nhập trung vị của nhóm thu nhập thấp ở Mỹ giảm từ 11.400 đô la Mỹ vào năm 1983 xuống còn 9.300 đô la vào năm 2013. Nhóm thu nhập trung bình của Mỹ cũng chỉ tăng rất thấp từ 94.300 đô la Mỹ/năm năm 1983 lên 96.500 đô la năm 2013. Trong khi đó, nhóm thu nhập cao tăng mạnh từ 318.000 đô la Mỹ/năm lên 639.400 đô la/năm trong giai đoạn 1983-2013.

Kinh tế nước ta ngày càng hội nhập sâu hơn vào nền kinh tế thế giới, hiện tượng lưỡng phân đang dần xuất hiện: xuất khẩu tăng mạnh nhưng GDP tăng chậm; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài tăng tốc trong khi đó khu vực doanh nghiệp trong nước tăng chậm hơn, và quan trọng hơn gần 78% lao động vẫn đang làm việc trong khu vực phi chính thức (là nơi mà đơn vị sản xuất kinh doanh không đăng ký theo luật doanh nghiệp); khoảng cách giàu nghèo đang giãn ra nhanh chóng.

Hình bên cho thấy thu nhập bình quân nhân khẩu của năm nhóm thu nhập ngành càng giãn ra và đặc biệt giãn mạnh khi chúng ta gia nhập WTO vào năm 2007. Điều này cho thấy GDP tăng lên đang ngày càng tập trung cho nhóm dân cư giàu nhất và nhóm 20% dân số nghèo nhất ngày càng tụt hậu.

78% lao động tương đương với khoảng 42 triệu người vẫn đang làm việc trong khu vực phi chính thức chủ yếu là làm trong nông nghiệp, kinh tế hộ gia đình, buôn bán nhỏ lẻ, hoặc tự doanh… đang là một thách thức rất lớn đối với kinh tế nước ta.

Điều này cho thấy nếu Việt Nam cứ tập trung những ngành công nghiệp hiện đại, thâm dụng vốn để tiến lên hiện đại mà quên mất vai trò tạo việc làm, tạo thu nhập, tạo đội ngũ công nhân chuyên nghiệp của những ngành thâm dụng lao động thì chúng ta đang đẩy nhanh nền kinh tế vào bẫy lưỡng phân như đã nói ở trên.
Sự xuất hiện các hệ thống siêu thị hiện đại, các chuỗi phân phối; chuyển đổi phương thức sản xuất nông nghiệp theo quy mô lớn, dưới dạng các doanh nghiệp đang thay thế dần cách thức buôn bán và sản xuất truyền thống. Đi đôi với xu thế này đó là mất việc làm trong các khu vực nói trên. Giả sử một siêu thị có thể tạo ra việc làm cho 100 người nhưng nó có thể xóa bỏ cơ hội việc làm của số đông hơn nhiều những người từng kinh doanh trong hộ gia đình.

Tương tự một cánh đồng mẫu lớn cũng sẽ giảm đáng kể số lượng lao động cần thiết trên một héc ta ruộng so với sản xuất truyền thống. Những lao động dư thừa này nếu không được hấp thụ vào những khu vực chính thức sẽ phải lăn lộn trong khu vực phi chính thức ngày càng tụt hậu và họ sẽ bị rơi vào vòng nghèo đói luẩn quẩn: nghèo à không thể đào tạo kỹ năng, hạn chế khả năng dịch chuyển à không thể làm việc ở khu vực chính thức à nghèo.

Nếu số lượng lao động khu vực phi chính thức chiếm tỷ trọng lớn thì kịch bản Mexico hoàn toàn có thể xảy ra ở nước ta. Những nguy cơ bất ổn xã hội ngày càng cao.

Như vậy, hội nhập là không thể đảo ngược và mang lại những cơ hội rất lớn cho nền kinh tế nước ta. Tuy nhiên, nguy cơ phân hóa nền kinh tế là rất rõ ràng. Nhà nước ngay từ bây giờ cần phải có những chính sách khuyến khích phát triển ngành thâm dụng lao động để dịch chuyển dần những lao động trong khu vực phi chính thức sang khu vực chính thức. Đồng thời thúc đẩy những ngành có lợi thế cạnh tranh của Việt Nam sản xuất quy mô lớn, tạo hiệu quả nhờ quy mô và giải quyết việc làm. Đồng thời khuyến khích phát triển các doanh nghiệp nhỏ và vừa tham gia vào các ngành không thương mại được và kết nối với các doanh nghiệp lớn tạo lập thành các cụm liên kết ngành. 

Nguồn: Thời báo Kinh tế Sài Gòn Online