Miễn thuế đối với hàng tạm nhập – tái xuất
Người Việt Nam đang lo ngại sâu sắc về USD trong bối cảnh hệ thống tài chính của nước Mỹ tiếp tục ngập sâu trong rắc rối.

Từ hoàn thuế sang miễn thuế

Theo quy định tại Luật Thuế xuất khẩu,  thuế nhập khẩu 2005, hàng hóa kinh doanh tạm nhập – tái xuất tạm nộp thuế hoặc thực hiện bảo lãnh khi tạm nhập và được hoàn thuế khi tái xuất. Việc các doanh nghiệp thực hiện bảo lãnh khi tạm nhập khẩu hàng hóa và cơ quan hải quan phải theo dõi trên sổ kế toán số tiền thuế này đã làm tăng chi phí quản lý thuế. Tham khảo kinh nghiệm quốc tế về quản lý loại hình này cho thấy, hầu hết các nước đều quy định hàng tạm nhập – tái xuất không phải nộp thuế trong thời hạn nhất định nhưng phải tái xuất đúng thời hạn và bảo đảm bằng một khoản tiền đặt cọc tương đương nghĩa vụ thuế phải nộp (Anh, Nhật Bản, New Zealand, Trung Quốc) hoặc bảo đảm bằng một khoản tiền đặt cọc nhất định (Thái Lan, Lào, Campuchia) và quản lý, theo dõi bằng sổ tạm quản.

Vì vậy, để thực hiện đúng bản chất kinh tế của hàng hóa tạm nhập – tái xuất, loại trừ thu chi khống ngân sách, bảo đảm quản lý, phòng chống gian lận thương mại, buôn lậu; hàng kinh doanh tạm nhập – tái xuất từ đối tượng hoàn thuế sẽ được chuyển sang đối tượng miễn thuế nếu có bảo lãnh của tổ chức tín dụng hoặc đặt cọc một khoản tiền tương đương số tiền thuế nhập khẩu của hàng tạm nhập – tái xuất. Đó là quy định mới của dự thảo được ghi nhận tại điểm e khoản 9 Điều 16.

Song, theo đại diện Petrolimex Việt Nam, đây là điểm mới tiến bộ nhưng rất khó để thực thi bởi theo Luật Quản lý thuế, hàng tạm nhập – tái xuất vẫn là đối tượng chịu thuế. Điều đó có nghĩa là dự thảo ra đời, buộc phải sửa đổi Luật Quản lý thuế để bảo đảm tính thống nhất trong thực hiện.

Thêm đối tượng miễn thuế?

Đại diện Hiệp hội Chế biến và Xuất khẩu Thủy sản Việt Nam (VASEP) cho rằng, dự thảo cần bổ sung hàng hóa xuất khẩu bị trả về cũng thuộc đối tượng được miễn thuế, cụ thể là đối với hàng hóa xuất khẩu được sản xuất từ nguyên liệu, vật tư, linh kiện nhập khẩu để sản xuất hàng hóa xuất khẩu nhưng tái nhập lại để tái chế và xuất khẩu lại (hàng tái nhập sản xuất xuất khẩu). Bởi theo Điều 47, Nghị định 08/2015 quy định chi tiết đối với hàng tái nhập, hải quan không thu thuế nhập khẩu nhưng lại yêu cầu doanh nghiệp phải nộp đủ bộ hồ sơ không thu thuế tại thời điểm tái nhập. Tuy nhiên, sau khi doanh nghiệp đã nộp đủ bộ hồ sơ không thu thuế thì thực tế, doanh nghiệp phải chờ hải quan xử lý trong nhiều ngày và cuối cùng cũng phải nộp thuế trước để thông quan hàng sớm.

Đối với quy định về tạm nhập – tái xuất hoặc tạm xuất – tái nhập để bảo hành, sửa chữa theo điều kiện của hợp đồng cũng thuộc đối tượng miễn thuế, quy định tại điểm 9c Điều 11, nhiều doanh nghiệp cho biết, đang vướng mắc ở điểm muốn nhập và sửa chữa những thiết bị từ nước ngoài đưa vào trong nước nhưng sau khi sửa chữa xong, xuất đi vẫn phải chịu thuế.

Đại diện công ty Luật Baker & McKenzie Việt Nam cho biết, thực tế về nguyên tắc, tạm nhập – tái xuất hay tạm xuất – tái nhập đều không làm phát sinh quan hệ mua bán và nguyên tắc không thu thuế. Mặc dù đã có quy định miễn thuế nhưng nếu không có văn bản hướng dẫn chi tiết, doanh nghiệp sẽ gặp khó khăn khi thực hiện. Đơn cử như các doanh nghiệp viễn thông nhập mặt hàng điện thoại Iphone theo chính sách bảo hành 1 đổi 1 nhưng khi xuất trả cho nước ngoài và nhập hàng thay thế hoàn toàn mới, doanh nghiệp vẫn phải nộp thuế cho hàng bảo hành.

Tuyết Hoa
Nguồn: Báo điện tử Đại biểu nhân dân