Những vấn đề đặt ra sau 2 năm Việt Nam gia nhập WTO
Người Việt Nam đang lo ngại sâu sắc về USD trong bối cảnh hệ thống tài chính của nước Mỹ tiếp tục ngập sâu trong rắc rối.

Sau 2 năm gia nhập WTO, nền kinh tế Việt Nam giành được những thành tựu to lớn trong thu hút đầu tư trực tiếp của nước ngoài, trong xuất khẩu hàng hoá, nâng cao năng lực cạnh tranh của Quốc gia, doanh nghiệp và các sản phẩm của VN có nhiều chuyển động mới về xây dựng khung pháp lý cho các hoạt động kinh tế theo yêu cầu của WTO và hội nhập kinh tế quốc tế. Theo ông Trương Đình Tuyển, những tác động về kinh tế và quản lý kinh tế thể hiện rõ rệt nhất. Đó là việc xuất hiện những cơ hội mới trong đó, đầu tư, đặc biệt là đầu tư nước ngoài tăng mạnh. Do phải thực hiện cam kết, Việt Nam đã tạo ra được môi trường đầu tư thông thoáng, minh bạch, không phân biệt đối xử. Đây là những yếu tố khuyến khích các nhà đầu tư trong và ngoài nước. Hơn nữa, với việc gia nhập WTO, các nhà đầu tư có được thị trường tiêu thụ rộng lớn cho sản phẩm của mình mà không bị phân biệt đối xử. Gia nhập WTO, VN có thị trường xuất khẩu rộng lớn gần 150 nước với mức cam kết về thuế nhập khẩu đã và sẽ được cắt giảm và các biện pháp phi thuế quan đã và sẽ được loại bỏ theo nghị định thư gia nhập của các thành viên WTO. Do đó, xuất khẩu năm 2007 đạt 48, 6 tỷ USD với 3 điểm đáng chú ý. Lần đầu tiên tốc độ tăng xuất khẩu của khu vực 100% vốn trong nước cao hơn khu vực có vốn nước ngoài; do không bị khống chế về hạn ngạch khi trở thành thành viên WTO, kim ngạch xuất khẩu dệt may đạt 7, 750 tỷ USD; xuất khẩu các mặt hàng thuộc nhóm các hàng hóa khác tăng 38, 9 so với kim ngạch 8, 7 tỷ USD.

ông Võ Trí Thành – Trưởng ban Hội nhập kinh tế quốc tế (Viện Quản lý kinh tế TW) đánh giá: “sau 2 năm gia nhập WTO, VN đang chịu “bão” từ khủng hoảng kinh tế thế giới sau thời kỳ tăng trưởng nóng. Hàng loạt các lĩnh vực kinh tế đang trong tình trạng cấp cứu như thị trường tài chính, chứng khoán, bất động sản v.v… Thị trường chứng khoán Việt Nam đang thiếu rất nhiều yếu tố cơ bản để bảo đảm cho thị trường này vận hành trơn tru. ông Trương Đình Tuyển cho rằng, tuy đạt được kết quả bước đầu song phải thẳng thắn thừa nhận rằng những chuyển biến tích cực không đồng đều và không đủ mạnh để tạo ra bứt phá. Cải cách hành chính tuy có một số thành tựu nhưng nhiều khâu còn trì trệ, gây phiền hà, làm tăng chi phí giao dịch. Việt Nam chưa xây dựng được một Bộ chuẩn mực về thủ tục hành chính để áp dụng chung cho các địa phương. Hệ thống pháp luật vẫn còn thiếu đồng bộ, chồng chéo, vừa kém hiệu quả, vừa tăng gánh nặng pháp lý lên người dân và doanh nghiệp. ông Herb Cochran – Giám đốc phòng thương mại Mỹ tại Việt Nam đề cập đến một số vụ tham nhũng trong các dự án vốn ODA như vụ công ty tư vấn PCI của Nhật hối lộ một vài quan chức Việt Nam hơn 800.000 USD trong dự án Đại lộ Đông Tây và cải thiện môi trường nước ở TP. Hồ Chí Minh và xem vấn nạn này cũng là thách thức khi Việt Nam gia nhập WTO.

Tổng kết hội thảo, Chủ tịch Hội Luật gia VN Phạm Quốc Anh nhấn mạnh, vào WTO nền kinh tế Việt Nam tuy đối mặt với những thách thức rất lớn trên nhiều mặt nhất là trong bối cảnh khủng hoảng kinh tế – tài chính toàn cầu, ảnh hưởng không nhỏ đến hoạt động kinh tế của quốc gia, tác động và ảnh hưởng đến hoạt động của các cơ quan quản lý nhà nước, trong đó có tiến trình xây dựng nhà nước pháp quyền, đưa hệ thống pháp luật Việt Nam hội nhập với hệ thống pháp luật của thế giới, Chủ tịch Phạm Quốc Anh cho rằng, để tận dụng tốt cơ hội, vượt qua thách thức, Việt Nam cần phải giải quyết nhiều vấn đề một cách đồng bộ. Đó là vừa hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường gắn liền với việc xây dựng các tiêu chí thận trọng và cơ chế kiểm soát các lĩnh vực nhạy cảm như các loại dịch vụ ngân hàng, bảo hiểm, chứng khoán, các quỹ đầu tư v.v… Đó là việc chuyển đổi mô hình tăng trưởng theo đó, thay vì tăng trưởng chủ yếu dựa vào khai thác và xuất khẩu tài nguyên và nguyên liệu thô, dựa vào tăng vốn đầu tư chủ yếu là đầu tư của các tập đoàn và Tổng Cty nhà nước sang phát triển chủ yếu dựa vào công nghệ, chất lượng nguồn nhân lực và trình độ quản lý của cán bộ, công chức. Đó là phát triển mạnh nguồn nhân lực, tập trung xử lý một số công trình cơ sở hạ tầng quan trọng như năng lượng, các cảng biển v.v…, hoàn thiện các chính sách an sinh xã hội, đẩy mạnh công cuộc giảm nghèo v.v…

Nguồn: Báo Đời sống và pháp luật  điện tử