PCI 2011: Thay đổi thứ hạng và xu hướng hội tụ
Người Việt Nam đang lo ngại sâu sắc về USD trong bối cảnh hệ thống tài chính của nước Mỹ tiếp tục ngập sâu trong rắc rối.

 

Top 10 đã có sự thay đổi

Theo ông Vũ Tiến Lộc, Chủ tịch Phòng thương mại và công nghiệp Việt Nam (VCCI): PCI 2011 chứng kiến sự thay đổi thứ hạng của rất nhiều địa phương, cùng với đó những tỉnh thành vốn có lợi thế cạnh tranh những năm trước đã có sự tụt hạng đáng kể dù nỗ lực cải cách vẫn rất đáng ghi nhận. Đơn cử 2 đầu tầu kinh tế, PCI 2011 Hà Nội đứng thứ 36 (tăng 7 bậc so 2010); TP.HCM đứng thứ 20 (tăng 3 bậc so 2010). Đứng cuối bảng xếp hạng là tỉnh Cao Bằng thay vị trí cho ĐakNông năm 2010.

 Trong khi Top 10 năm nay chứng kiến bước nhảy ngoạn mục của nhiều địa phương so với năm 2010. Top 10 năm nay xếp theo thứ tự gồm: Lào Cai, Bắc Ninh, Long An, Đồng Tháp, Đà Nẵng, Bà Rịa-Vũng Tàu, Hà Tĩnh, Bình Phước, Đồng Nai và Bình Dương. Như vậy, so với 2010 Lào Cai từ vị trí thứ 2 vươn lên đứng đầu, đẩy Đà Nẵng thứ 1 tụt xuống thứ 5; Bắc Ninh từ số 6 vươn lên thứ 2; Đồng Tháp từ vị trí số 3 tụt xuống thứ 4, nhường vị trí thứ 3 cho Long An; trong khi Bình Dương từ thứ 5 tụt xuống thứ 10…

 Trong bản báo cáo PCI 2011 có chi tiết rất thú vị, năm 2010 có tới 27 tỉnh thành thay đổi nhân sự lãnh đạo cao nhất. Có chăng mối liên hệ giữa người đứng đầu với chỉ số PCI, khi bảng xếp hạng đã chứng kiến những bước nhảy cũng như sự tụt hạng đáng kể của nhiều địa phương?

 Thu hẹp điểm số giữa các địa phương

 Xét về mặt điểm số, khoảng cách giữa các địa phương đã được rút ngắn rất nhiều. Như kết quả PCI năm 2011, hiện các tỉnh xếp hạng cuối bảng đã rút ngắn khoảng cách so với các tỉnh xếp hạng đầu. Ví dụ năm 2006, khoảng cách giữa các tỉnh là 30 điểm (36,074 thấp nhất và 77,613 cao nhất) thì đến 2011 giảm còn 23 điểm (50,982 và 73,531 điểm). Thông qua 9 điểm số thành phần, Lào Cai dẫn đầu tới 4 chỉ số; trong khi Bạc Liêu và Cao Bằng đứng cuối 2 chỉ số. Chúng ta dễ thấy, những chỉ số ít có sự thay đổi như tính minh bạch ít thay đổi, nhất là vấn đề tiếp cận đất đai, chi phí không chính thức lại có xu hướng tăng lên.

 Cụ thể, 9 chỉ số thành phần tỉnh đứng đầu và đứng cuối: Về gia nhập thì trường Lào Cai đứng đầu (9,41 điểm), Đak Nông đứng cuối (7,30 điểm); Tiếp cận đất đai Long An (8,37) và TT-Huế (4,34); Tính minh bạch Lào Cai (7,34) và Cao Bằng (4,51); Chi phí thời gian Lào Cai (8,28) và Hà Nam (3,81); Chi phí không chính thức Bình Phước (8,62) và Cao bằng (4,54); Tính năng động Lào Cai (9,38) và Lâm Đồng (1,39); Dịch vụ hỗ trợ doanh nghiệp Hà Nội (7,26) và Bạc Liêu (1,75); Đào tạo lao động Quảng Ninh (5,80) và Vĩnh Long (3,85); Thiết chế pháp lý Bà Rịa-Vũng Tàu (7,00) và Bạc Liêu (3,14).

 Một điểm đáng lưu ý về chỉ tiêu hạ tầng đã có sự tiến bộ qua các năm, trong đó các trọng số như: Đường bộ; Khu công nghiệp; dịch vụ internet, viễn thông và điện đều tăng. Cụ thể, một con số rất ấn tượng trong PCI 2011 là số giờ cắt điện và dịch vụ viễn thông. 70% DN hài lòng về chất lượng dịch vụ viễn thông; trong khi số giờ doanh nghiệp bị cắt điện cũng giảm kỷ lục từ 89 giờ/doanh nghiệp/ tháng năm 2010 xuống còn 9 giờ/doanh nghiệp/ tháng năm 2011. 

 Nói về thành công của địa phương, ông Nguyễn Văn Vịnh, Chủ tịch UBND tỉnh Lào Cai cho biết: Lào Cai đã đề ra 7 nhóm nhiệm vụ phát triển kinh tế địa phương khiến năng lực cạnh tranh của tỉnh luôn có được vị trí tốt. Yếu tố thành công phải kể đến những kế hoạch phát triển kinh tế dài hơi; tăng cường cải cách TTHC và thực thi giám sát triệt để; đẩy mạnh ứng dụng CNTT vào công việc; thường xuyên tổ chức đối thoại giữa DN với lãnh đạo; thúc đẩy đào tạo nhân lực; minh bạch các chính sách thu hút đầu tư và quy hoạch đất đai; đặc biệt địa hương đã tăng cường truyền thông và nâng cao nhận thức đến đông đảo cán bộ công nhân viên chức hành xử công vụ theo hướng chuyên nghiệp, phục vụ DN và người dân như đối tác của mình. Website www.pcilaocai.vn ra đời vì mục đích như vậy…

 Xét về tổng thể, mức độ lạc quan của DN giảm, trong khi chất lượng điều hành của địa phương có tăng. Sự thay đổi thứ hạng và khoảng PCI giữa các địa phương đã có sự rút ngắn và lien tục thay đổi. Các yếu tố như chi phí thời gian, đào tạo lao động, thiết chế luật pháp có được sự cải thiện. Trong khi ở chiều ngược lại, yếu tố minh bạch, chi phí không chính thức thì lại tăng lên, cần một chặng đường dài cải cách của các địa phương.

 Khảo sát doanh nghiệp FDI bộc lộ nhiều điều

 Năm 2011, khối FDI đã đóng góp được 13,59% GDP; chiếm tới 59% tổng kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam. Qua khảo sát, thu thập điều tra dữ liệu từ 1.970 DN FDI đến từ 45 quốc gia và vùng lãnh thổ (tương đương 16% tổng số DN FDI đang hoạt động tại Việt Nam) cho thấy: Về nguồn gốc đầu tư, 75% DN FDI đến từ các nước châu Á. Về quy mô DN, 75% DN có quy mô nhỏ (dưới 300 lao động), chỉ 11% số DN có trên 500 lao động trở lên; 63% DN có vốn đăng ký dưới 2,5 triệu USD, chỉ 13% DN có vốn đăng ký lớn hơn 25 triệu USD, như vậy đa phần số DN FDI tại Việt Nam đều khá nhỏ bé.

 Xét theo tiêu chí ngành nghề, 65% DN FDI hoạt động trong lĩnh vực sản xuất, 30% DN hoạt động dịch vụ. Về hoạt động sản xuất kinh doanh, tổng doanh thu của khối FDI trung vị năm 2011 là 1,3 triệu USD, tăng 300.000 USD so với 2010 (mức tăng mạnh nằm ở khối sản xuất). Lợi nhuận trên vốn đầu tư tăng từ 11% năm 2010 lên 22% năm 2011. Tuy nhiên, triển vọng kinh doanh trong 2 năm tới của khối này lại rất kém lạc quan. Cụ thể, 39% DN lạc quan triển vọng tăng quy mô kinh doanh so với 66% năm 2010; trong khi chỉ có 33% DN có kế hoạch mở rộng sản xuất.

 Phân tích yếu tố lan tỏa của các DN FDI đối với ngành công nghiệp và kinh tế nói chung, có tới 84% DN FDI là DN 100% vốn nước ngoài, cho thấy có ít có sự liên doanh, liên kết giữa doanh nghiệp trong và ngoài nước. DN FDI nhập khẩu tới 57,5% hàng hóa, dịch vụ trung gian từ nước ngoài, chỉ có 40% được mua từ trong nước và khoảng 50% sản phẩm của khối DN FDI là để xuất khẩu  (46,7% tổng số DN và 57% số sản phẩm). Chỉ 15% DN cho biết khách hàng chính là nhu cầu nội địa. Có thể nói đầu vào, đầu ra của khối DN FDI đến từ bên ngoài và Việt Nam chỉ là trung gian và đứng ở khâu thấp nhất của chuỗi giá trị gia tăng (tức gia công đơn thuần).

 Phân tích sâu về vấn đề, TS Jim Winkler, Giám đóc dự án USAID/VNCI cho biết: Sự thiếu liên kết với khu vực kinh tế tư nhân trong nước hạn chế hiệu ứng lan tỏa về tiếp thu công nghệ, kinh nghiệm quản lý và cải tiến năng suất. Điều này có thể dễ ràng nhận thấy thông qua lợi thế cạnh tranh của Việt nam hiện nay chỉ là chi phí lao động, ổn định chính trị, các ưu đãi về thuế và đất đai. Chính vì lí do này mà 65% DN FDI hoạt động tại Việt Nam thuộc các ngành dệt may, da giày, điện tử và chế biến thực phẩm. Trong khi những lĩnh vực Việt Nam cần phát triển thì không có sự tiến bộ như công nghiệp phụ trợ, chuyển giao công nghệ, tăng hàm lượng chất xám/sản phẩm, nâng cao hiệu suất lao động…Từ kết quả này, những nhà làm chính sách và thu hút đầu tư nước ngoài có thêm kênh thông tin nhằm định hướng đầu tư thời gian tới.

Điều tra PCI 2011 đại diện cho tiếng nói của gần 7.000 doanh nghiệp trong nước tại 63 tỉnh thành trên cả nước, có sự tham gia của gần 2.000 doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài đang hoạt động tại Việt Nam. Quý độc giả có thể tham khảo chi tiết thông tin và các chỉ số tại: www.pcivietnam.org

 (Nam Phương)
Nguồn: Tạp chí Tài chính điện tử