Pháp luật về áp dụng Luật Phá sản đối với tổ chức tín dụng
Người Việt Nam đang lo ngại sâu sắc về USD trong bối cảnh hệ thống tài chính của nước Mỹ tiếp tục ngập sâu trong rắc rối.

Tuy nhiên, Luật Các tổ chức tín dụng sửa đổi, bổ sung được Quốc hội thông qua ngày 15-6-2004, có hiệu lực thi hành từ ngày 1-10-2004 (gọi tắt là Luật Các TCTD năm 2004) cũng đã bộc lộ nhiều bất cập như chưa thể hiện được đầy đủ vai trò của Ngân hàng Nhà nước đối với hoạt động của các tổ chức tín dụng, chưa có hành lang pháp lý đầy đủ đối với tổ chức tín dụng là công ty cổ phần, công ty TNHH MTV, là công ty TNHH hai thành viên trở lên và tổ chức tín dụng là HTX… và đối với trường hợp tổ chức tín dụng có nguy cơ mất khả năng chi trả…

Để khắc phục những bất cập nói trên và để đáp ứng được yêu cầu xây dựng phát triển kinh tế trong giai đoạn hiện nay và cho nhiều năm tiếp theo của nước ta, ngày 16-6-2001, QH thông qua Luật Các tổ chức tín dụng (sau đây viết tắt là Luật Các TCTD năm 2010). Luật này có hiệu lực thi hành từ ngày 1-1-2011 và thay thế Luật Các TCTD năm 2004.   Luật Các TCTD năm 2010 có 10 chương (ít hơn Luật Các TCTD năm 2004 một chương) với 163 điều luật (nhiều hơn Luật Các TCTD năm 2004 là 32 điều luật) và có nhiều quy định mới. Cụ thể là:   Về phạm vi điều chỉnh của luật mở rộng hơn bao gồm: quy định về việc thành lập, tổ chức, hoạt động, kiểm soát đặc biệt, tổ chức lại, giải thể tổ chức tín dụng, việc thành lập, tổ chức, hoạt động của chi nhánh ngân hàng nước ngoài, văn phòng đại diện của tổ chức tín dụng nước ngoài, tổ chức nước ngoài khác có hoạt động ngân hàng.   Về đối tượng áp dụng. Luật Các TCTD năm 2010 áp dụng đối với các đối tượng sau đây:    – Tổ chức tín dụng;    – Chi nhánh ngân hàng nước ngoài;    – Văn phòng đại diện của tổ chức tín dụng nước ngoài, tổ chức nước ngoài khác có hoạt động ngân hàng;    – Tổ chức, cá nhân có liên quan đến việc thành lập, tổ chức, hoạt động kiểm soát đặc biệt, tổ chức lại, giải thể tổ chức tín dụng, việc thành lập, tổ chức hoạt động của chi nhánh ngân hàng nước ngoài, văn phòng đại diện của tổ chức tín dụng nước ngoài, tổ chức nước ngoài khác có hoạt động ngân hàng.   Luật cũng quy định cụ thể đối với tổ chức tín dụng là công ty cổ phần, là công ty TNHH MTV và công ty TNHH hai thành viên trở lên đồng thời quy định nhiệm vụ quyền hạn của Đại hội đồng cổ đông, Hội đồng quản trị, Hội đồng thành viên của Ban Kiểm sát và của Giám đốc, Tổng Giám đốc.   Về trách nhiệm phòng chống rửa tiền, tài trợ khủng bố, luật quy định, tổ chức tín dụng, chi nhanh ngân hàng nước ngoài có trách nhiệm sau đây:   – Không được che giấu, thực hiện hoạt động kinh doanh liên quan đến khoản tiền đã có bằng chứng về nguồn gốc bất hợp pháp.   – Xây dựng quy định nội bộ về phòng chống rửa tiền, tài trợ khủng bố;   – Thực hiện các biện pháp phòng, chống rửa tiền, tài trợ khủng bố.   – Hợp tác với cơ quan nhà nước có thẩm quyền trong việc điều tra hoạt động rửa tiền, tài trợ khủng bố.   Có một số quy định mới về vai trò, quyền hạn của Ngân hàng Nhà nước trong Kiểm soát đặc biệt, tổ chức lại, phá sản, giải thể, thanh lý tổ chức tín dụng.   Về kiểm soát đặc biệt, Luật quy định rõ là: Khi có nguy cơ mất khả năng chi trả, tổ chức tín dụng phải kịp thời báo cáo với Ngân hàng Nhà nước về thực trạng tài chính, nguyên nhân và các biện pháp đã áp dụng, dự kiến áp dụng để khắc phục. Ngân hàng Nhà nước quyết định kiểm soát đặc biệt với tổ chức tín dụng.   Việc kiểm soát đặc biệt đặt dưới sự kiểm soát trực tiếp của Ngân hàng Nhà nước.   Ngân hàng Nhà nước quyết định xử lý kiến nghị của Ban Kiểm soát đặc biệt, có quyền yêu cầu chủ sở  hữu tăng vốn, thực hiện kế hoạch tái cơ cấu hoặc bắt buộc sáp nhập, hợp nhất, mua lại đối với tổ chức tín dụng được kiểm soát đặc biệt…   Về tổ chức lại tổ chức tín dụng, Luật quy định tổ chức tín dụng được tổ chức lại dưới hình thức chia, tách, hợp nhất, sáp nhập, chuyển đổi hình thức pháp lý sau khi được Ngân hàng Nhà nước chấp thuận bằng văn bản…   Về giải thể tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài trong các trường hợp sau đây: – Tự nguyện xin giải thể nếu có khả năng trả hết nợ và được Ngân hàng Nhà nước chấp thuận bằng văn bản.   – Khi hết thời hạn hoạt động không xin gia hoặc xin gia hạn nhưng không được Ngân hàng Nhà nước chấp thuận bằng văn bản. – Bị thu hồi giấy phép.   Về phá sản tổ chức tín dụng, lần đầu tiên trong Luật các TCTD ở nước ta quy định về phá sản tổ chức tín dụng. Quy định này là khắc phục việc không quy định tổ chức tín dụng là đối tượng áp dụng của Luật Phá sản hiện hành vì Điều 2 của Luật Phá sản hiện hành quy định đối tượng áp dụng Luật Phá sản là: “Doanh nghiệp, hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã được thành lập và hoạt động theo quy định của pháp luật”. Đối với các tổ chức tín dụng thì không có văn bản pháp luật nào xác định là doanh nghiệp hoạt động theo Luật Doanh nghiệp nên trong thực tế có thể có tổ chức tín dụng lâm vào tình trạng phá sản nhưng không có căn cứ pháp luật để Tòa án giải quyết yêu cầu tuyên bố phá sản. Điều 155 Luật các TCTD năm 2010 quy định điều kiện phá sản tổ chức tín dụng như sau: “Sau khi Ngân hàng Nhà nước có văn bản chấm dứt kiểm soát đặc biệt hoặc văn bản chấm dứt áp dụng hoặc văn bản không áp dụng các biện pháp phục hồi khả năng thanh toán mà tổ chức tín dụng vẫn lâm vào tình trạng phá sản, thì tổ chức tín dụng đó phải làm đơn yêu cầu Tòa án mở thủ tục giải quyết yêu cầu tuyên bố phá sản theo quy định của pháp luật về phá sản”.   Tòa án căn cứ vào đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản của tổ chức tín dụng và có đủ căn cứ theo quy định của pháp luật về phá sản để mở thủ tục giải quyết yêu cầu tuyên bố phá sản. Đây là loại việc mới đối với TAND.    Theo quy định tại Điều 5 của Nghị định số 05/2010/NĐ-CP ngày 18-1-2010 của Chính phủ quy định việc áp dụng Luật Phá sản đối với các tổ chức tín dụng thì Tòa án có thẩm quyền tiến hành thủ tục phá sản đối với tổ chức tín dụng là TAND cấp tỉnh.   Đỗ Văn Chỉnh
Nguồn: Báo điện tử Công lý