Phối hợp chính sách Tài khóa – Tiền tệ: Còn “vênh”
Người Việt Nam đang lo ngại sâu sắc về USD trong bối cảnh hệ thống tài chính của nước Mỹ tiếp tục ngập sâu trong rắc rối.

 

Đây là vấn đề được các chuyên gia đưa ra bàn luận tại Hội thảo khoa học Phối hợp chính sách tài khóa và chính sách tiền tệ trong điều tiết kinh tế vĩ mô diễn ra hôm nay, ngày 11/5, tại Hà Nội.

CS Tài khóa – Tiền tệ lỏng lẻo: Bắt tay đưa lạm phát lên cao

Việt Nam đã trải qua một giai đoạn dài kinh tế phát triển nhanh, tăng trưởng GDP đạt mức bình quân 7%/năm cho giai đoạn 1996-2000 và 7,25%/năm cho giai đoạn 2001-2010. Để duy trì và thúc đẩy tăng trưởng, Chính phủ đã có những đầu tư lớn để hỗ trợ cho phát triển kinh tế, đảm bảo an sinh xã hội. Có thể nói, chính sách tăng mạnh chi tiêu công nhằm thúc đẩy tăng trưởng kinh tế là chiến lược tài chính hợp lý và có cơ sở khoa học để thực hiện. Về bản chất thì chi tiêu công tác động tốt đến tăng trưởng kinh tế nếu tăng chi tiêu có “liều lượng” phù hợp với mức độ và tiềm năng tăng trưởng kinh tế.

Tuy nhiên, chi tiêu công kém hiệu quả dẫn đến tình trạng thâm hụt ngân sách “kinh niên” với tỷ lệ thâm hụt ngân sách/GDP khá cao khiến nợ công/GDP, nợ nước ngoài và nợ công nước ngoài tăng nhanh.

Thực tế, các khoản vay từ nước ngoài đang tăng rất nhanh kể từ năm 2008, làm giảm khả năng thanh toán của Việt Nam và rất có thể chúng ta sẽ phải chịu chi phí vay với lãi suất cao hơn với các khoản vay trong tương lai, gây rủi ro lớn cho nền tài chính quốc gia. Bên cạnh đó, nợ nước ngoài tăng nhanh cũng sẽ tạo nên những áp lực không nhỏ lên tỷ giá hối đoái trong thời gian tới.

Các khoản vay trong nước để bù đắp thâm hụt ngân sách thông qua phát hành trái phiếu với lãi suất huy động vốn cao hơn hơn lãi suất thị trường mở OMO cho các dự án đầu tư không ngừng được mở rộng, thêm nữa, do thiếu sự phối hợp giữa CSTT và CSTK trong việc tổ chức đấu thầu tạo nên hiện tượng “vị thế tiền rẻ”, gây ra rối loạn trên thị trường liên ngân hàng, và như vậy, vô hình chung NSNN trở thành nguồn cung ứng lợi nhuận cho các ngân hàng thương mại. – TS Hà Huy Tuấn, Phó Chủ tịch Ủy ban Giám sát Tài chính Quốc gia khẳng định.

Lãi suất trái phiếu chính phủ tăng mạnh cũng kéo theo lãi suất huy động tăng nhanh, đẩy lãi suất tín dụng lên mức rất cao. Điển hình, cùng với chính sách tài khóa, chính sách tiền tệ cũng được thực hiện theo hướng thắt chặt với việc giảm tốc độ tăng M2, tín dụng. Trên cơ sở lạm phát có xu hướng giảm và điều kiện cung cầu vốn trên thị trường, NHNN cũng đã điều chỉnh giảm lãi suất với mục tiêu giúp các doanh nghiệp tiếp cận vốn, sản xuất thuận lợi hơn. Tuy nhiên, so với năng lực của các doanh nghiệp thì mặt bằng lãi suất hiện nay vẫn còn tương đối cao, thể hiện qua khối lượng giao dịch trên thị trường khá thấp do các ngân hàng hạn chế cho vay và tập trung vào thu hồi nợ hoặc cho vay lãi suất cao…Dẫn đến sản xuất đình trệ, đồng thời khiến chi phí đầu vào trở nên đắt đỏ, tác động không nhỏ đến lạm phát.

Như vậy, cùng với nguyên nhân trực tiếp từ CSTT chưa hợp lý, CSTK cũng gián tiếp khiến lạm phát của năm 2011 tăng cao khó kiểm soát.

Cũng đồng tình với quan điểm trên,  TS Đào Minh Tú, Chánh VP NHNN cho rằng do thực hiện các mục tiêu khác nhau nên CSTK và CSTT đôi khi cũng thiếu đồng bộ, chưa kết hợp được liều lượng và mức độ sử dụng trong từng thời kỳ.

Ngân hàng Nhà nước thông thường tập trung vào mục tiêu trung và dài hạn, ổn định vĩ mô nhưng thực tế vẫn phải gồng mình đáp ứng những yêu cầu cấp bách ngắn hạn, vẫn còn độ vênh trong thi hành chính sách của Bộ Tài chính và Ngân hàng Nhà nước.

Trong quá trình thực thi chính sách, có những thời điểm, chính sách tiền tệ và chính sách tài khoá được điều hành khá độc lập, thiếu sự phối hợp nhịp nhàng, dẫn đến sự xung đột, triệt tiêu hoặc làm giảm hiệu quả của một trong hai chính sách hoặc cả hai chính sách. Cụ thể, khi NHNN giảm lãi suất để hỗ trợ doanh nghiệp nhưng giá xăng, giá điện lại tăng ngay trước hoặc sau thời điểm giảm lãi suất. Cũng có thời điểm lãi suất trái phiếu chính phủ vận hành trái chiều với các mức lãi suất điều hành của NHNN làm ảnh hưởng nhất định đến mục tiêu điều hành CSTT.

Cần giảm sức ép cho điều hành CSTK – CSTT

Theo chuyên gia kinh tế Phạm Chi Lan: Câu chuyện không phải chỉ dừng lại sự phối hợp chính sách tiền tệ và tài khóa giữa 2 cơ quan Bộ Tài chính và NHNN, mà chính sách đó được thiết kế trên tổng thể của nền kinh tế một cách nhịp nhàng cả quá trình nghiên cứu, đưa ra và thực hiện chính sách. Thực tế, dù có sự phối hợp chặt chẽ hơn giữa các cơ quan nhưng chính sách đưa ra nhiều khi không đồng nhất về thời gian, thậm chí còn trái chiều nhau. Vì vậy các chính sách không phát huy được hiệu quả cao của nó để phục vụ cho sự phát triển kt một cách ổn định hay lành mạnh.

Cần phải nói, CSTK và CSTT là hai công cụ quan trọng trong điều hành, quản lý kinh tế vĩ mô của bất kỳ một quốc gia nào, nhất là trong thời điểm nền kinh tế có nhiều diễn biến phức tạp, khó lường. Hai chính sách này tuy có những chức năng riêng như lại có mối quan hệ mật thiết và tác động qua lại lẫn nhau trong việc thực hiện mục tiêu kinh tế chung của mỗi quốc gia. Với một nước đang phát triển, còn nhiều khó khăn về nguồn lực tài chính, kinh tế và ngày càng hội nhập sâu rộng với thế giới như Việt Nam thì mối quan hệ giữa 2 chính sách này trong điều hành, quản lý kinh tế vĩ mô càng trở nên quan trọng.

Do đó, TS Hà Huy Tuấn khuyến nghị: Việt Nam cần phải sớm điều chỉnh mô hình tăng trưởng và mục tiêu tăng trưởng hợp lý hơn với tiềm năng tăng trưởng của nền kinh tế. Theo đó, có thể chấp nhận một giai đoạn ngắn tăng trưởng GDP không đạt mức cao như đề ra là 6,5-7% cho giai đoạn 2011-2015 xuống còn 6-6,5% cho phù hợp với thực lực của nền kinh tế. Điều này sẽ góp phần làm giảm sức ép tăng trưởng cho việc điều hành CSTK và CSTT trong giai đoạn bước đệm, giảm áp lực vay nợ trong và ngoài nước do tăng trưởng nóng gây ra, qua đó làm giảm áp lực lên nợ công cũng như nợ nước ngoài, tránh gây nên những áp lực ngoại hối tiêu cực.

Trước mắt, trong năm 2012, CSTT và CSTK cần phối hợp để góp phần thực hiện cùng một lúc hai mục tiêu mà Quốc hội và Chính phủ đã đề ra là kiểm soát được lạm phát ở mức 1 con số và không để tăng trưởng kinh tế dưới 6%, đồng thời tháo gỡ khó khăn cho doanh nghiệp và thúc đẩy sản xuất, kinh doanh để ngăn chặn kịp thời tình trạng số lượng doanh nghiệp phá sản đang ngày càng tăng. Để thực hiện cùng một lúc các mục tiêu này, chính sách tài khoá và chính sách tiền tệ cần có sự phối hợp chặt chẽ, nhịp nhàng để vừa duy trì mức độ “thắt chặt” hợp lý nhằm kiểm soát lạm phát, vừa phải có bước “nới lỏng” thận trọng để thúc đẩy tăng trưởng kinh tế và tháo gỡ khó khăn cho hoạt động sản xuất kinh doanh. Cùng với đó, cần phải có sự phối hợp đồng bộ giữa CSTK và CSTT trong việc tổ chức đấu thầu trái phiếu chính phủ, tránh gây nên sự bất ổn cho thị trường tài chính và nền kinh tế như những năm qua.

(T.Hương)
Nguồn: Tạp chí Tài chính điện tử