Sửa đổi Bộ luật Dân sự năm 2005: Tránh những quy định tùy nghi
Người Việt Nam đang lo ngại sâu sắc về USD trong bối cảnh hệ thống tài chính của nước Mỹ tiếp tục ngập sâu trong rắc rối.

Giao dịch dân sự vô hiệu hình thức

Điều 134, 137 BLDS quy định, các giao dịch dân sự do không tuân thủ quy định của pháp luật về hình thức trong việc lập văn tự mua bán, chuyển nhượng quyền sở hữu nhà ở, quyền sử dụng đất, không qua thủ tục công chứng, đăng ký giao dịch bảo đảm theo quy định của pháp luật về nhà ởã, đất đai. Khi xảy ra tranh chấp, Tòa án hoặc cơ quan nhà nước có thẩm quyền khác quyết định buộc các bên đương sự thực hiện quy định về hình thức của giao dịch theo quy định của pháp luật trong một thời hạn nhất định, quá thời hạn mà các bên đương sự không thực hiện thì giao dịch đó vô hiệu. Hậu quả giao dịch dân sự vô hiệu, các bên khôi phục lại tình trạng ban đầu, hoàn trả cho nhau những gì đã nhận; bên có lỗi gây thiệt hại phải bồi thường.

Trong thực tế, người dân không nắm vững pháp luật cho nên việc mua bán, chuyển nhượng tài sản là nhà ở, đất đai chỉ đơn thuần bằng giấy viết tay, bên mua trả tiền cho bên bán; bên bán giao giấy tờ và tài sản cho bên mua là coi như xong việc giao dịch. Đến khi người mua tài sản muốn mình đứng tên chủ sở hữu tài sản và yêu cầu người bán cùng ký hợp đồng mua bán, chuyển nhượng theo mẫu để thực hiện việc công chứng và đăng ký giao dịch bảo đảm, lúc này người bán tài sản hối tiếc vì lý do tế nhị nào đó, nên không hợp tác thực hiện giao dịch đúng quy định của pháp luật và xảy ra tranh chấp. Tòa án ra quyết định buộc các bên đương sự thực hiện hình thức giao dịch của hợp đồng trong thời hạn nhất định, nhưng người bán vẫn cố tình né tránh, không chịu hợp tác để hoàn thiện hợp đồng giao dịch đúng pháp luật. Thông thường hết thời hạn quy định, Tòa án tuyên hợp đồng giao dịch viết tay là vô hiệu; các bên đương sự trả lại cho nhau những gì đã nhận và hai bên cùng có lỗi, mỗi bên chịu một nửa giá trị chênh lệch tài sản. Suy cho cùng, thiệt hại bao giờ cũng thuộc về người mua tài sản bắt buộc phải đăng ký giao dịch bảo đảm. Do đó, đoạn cuối Khoản 2, Điều 137 BLDS cần quy định:“Bên không tiếp tục hợp tác thực hiện hình thức của hợp đồng quy định tại Điều 134 BLDS, thì phải bồi thường chênh lệch giá trị tài sản tăng thêm hoặc Tòa án phạt tiền theo tỷ lệ phần trăm của giá trị tài sản”. Có như vậy, Khoản 2, Điều 137 BLDS mới được thực hiện đúng nghĩa và bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp của người dân khi tham gia vào quan hệ pháp luật dân sự.

Thế chấp tài sản hình thành trong tương lai

Sau khi Việt Nam gia nhập Tổ chức Thương mại thế giới (WTO), Nhà nước thực hiện chính sách mở cửa nền kinh tế nước nhà, nhằm thu hút đầu tư nước ngoài. Theo đó, nhiều văn bản pháp luật cũng được mở rộng phạm vi và đối tượng điều chỉnh, trong đó BLDS có quy định: “Tài sản thế chấp cũng có thể là tài sản hình thành trong tương lai” (Điều 342). Và Nghị định số 163/2006/NĐ-CP quy định chi tiết thi hành một số điều của BLDS về xác lập, thực hiện giao dịch bảo đảm để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự và xử lý tài sản bảo đảm. “… Tài sản bảo đảm có thể là tài sản hiện có, tài sản hình thành trong tương lai và được phép giao dịch” (Điều 4).

Đây là quy định mở, tạo điều kiện cho các tổ chức tín dụng, ngân hàng cho vay và các cá nhân, doanh nghiệp vay vốn sản xuất, kinh doanh… Tuy nhiên, có nhiều chủ thể cho vay và đi vay vốn lợi dụng kẽ hở của pháp luật để thực hiện sai pháp luật, rút tiền Nhà nước về cho cá nhân. Chẳng hạn, khi doanh nghiệp được cấp Giấy phép đầu tư, Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (CNQSDĐ) và đem hồ sơ thiết kế của dự án thế chấp cho Ngân hàng để rút vốn, còn việc sử dụng vốn thế nào thì… tùy vào doanh nghiệp. Khi vụ việc đổ vỡ thì cơ quan có chức năng mới biết. Chẳng hạn, Công ty TNHH Dịch vụ du lịch – Xây dựng dân dụng – Trang trí nội thất và Thương mại KV (xin giấu tên và viết tắt là Cty KV) ký hợp đồng thế chấp tài sản hình thành trong tương lai là “Toàn bộ Khu Resort KV” kèm theo Giấy CNQSDĐ cho Chi nhánh Ngân hàng Đầu tư và Phát triển tỉnh Q. để vay 1,9 triệu USD. Sau đó, Cty KV viện lý do lập thủ tục xin tăng thêm diện tích đất thuê để mượn Giấy CNQSDĐ đã thế chấp, nhưng thực chất Cty KV lấy lại Giấy CNQSDĐ và hồ sơ Khu Resort KV để thế chấp cho Chi nhánh Ngân hàng quốc tế tại thành phố Đ. vay 119 tỷ đồng. Đến nay, Cty KV không có khả năng thanh toán nợ đến hạn, khiến hai chi nhánh ngân hàng phát đơn khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết, nhưng không biết đến bao giờ mới thu lại được khoản tiền cho vay? Đây là một trong nhiều món nợ cho vay từ tài sản hình thành trong tương lai và những hệ lụy cùng số phận trên 12.000 tỷ đồng nợ xấu khó đòi hiện nay. Do đó, BLDS cần bỏ quy định “Tài sản thế chấp cũng có thể là tài sản hình thành trong tương lai”.

Xử lý tài sản cầm cố, thế chấp

Trường hợp đã đến hạn thực hiện nghĩa vụ dân sự mà bên có nghĩa vụ không thực hiện hoặc thực hiện nghĩa vụ không đúng thỏa thuận thì tài sản cầm cố, thế chấp được xử lý theo phương thức do các bên đã thỏa thuận hoặc được bán đấu giá theo quy định của pháp luật để thực hiện nghĩa vụ (Điều 336, 355 BLDS). Theo nội dung của các điều luật này, khi áp dụng vào thực tiễn có 2 quan điểm khác nhau:

Quan điểm thứ nhất cho rằng, bên có nghĩa vụ không thực hiện thanh toán nợ đến hạn theo hợp đồng tín dụng đã ký kết mà xảy ra tranh chấp, điều trước tiên do các bên thỏa thuận việc thanh toán, nếu các bên không tự thỏa thuận được với nhau thì bên nhận thế chấp tài sản có quyền hợp đồng với Trung tâm bán đấu giá tài sản thuộc Sở Tư pháp hoặc Trung tâm bán đấu giá tài sản thuộc Sở Tài chính cấp tỉnh, tổ chức bán đấu giá tài sản cầm cố, thế chấp theo quy định của pháp luật để thu tiền cho bên nhận tài sản cầm cố, thế chấp, biện pháp này được thực hiện nhanh gọn, không đến mức phải yêu cầu Tòa án can thiệp. Quan điểm thứ 2 thì ngược lại, mặc dù điều luật quy định như đã nêu trên, nhưng mỗi khi một hoặc hai bên vay và cho vay vì lý do nào đó không thể thực hiện nghĩa vụ đúng theo cam kết trong hợp đồng, các bên không thể thỏa thuận được với nhau nên mới xảy ra tranh chấp. Tòa án có thẩm quyền giải quyết cả tranh chấp hợp đồng tín dụng và giải quyết hậu quả của tài sản cầm cố, thế chấp, buộc các bên đương sự thực hiện nghĩa vụ đã cam kết trong hợp đồng. Trên cơ sở đó, Cơ quan thi hành án dân sự căn cứ quyết định của bản án để thi hành khi đương sự có đơn yêu cầu. Vậy, câu hỏi đặt ra là cơ quan có chức năng sẽ áp dụng như thế nào trước những quy định có tính chất tùy nghi nêu trên?

Thái Nguyên Toàn
Nguồn: Báo điện tử Đại biểu nhân dân