Thị trường tiền tệ: Kỳ vọng ổn định trong 6 tháng cuối năm 2012
Người Việt Nam đang lo ngại sâu sắc về USD trong bối cảnh hệ thống tài chính của nước Mỹ tiếp tục ngập sâu trong rắc rối.

Thị trường tiền tệ Việt Nam sau khủng hoảng tài chính toàn cầu

Thị trường tiền tệ (TTTT) là cấu thành quan trọng của thị trường tài chính. Một TTTT được xem là ổn định, phát triển bền vững khi các thành viên tham gia thị trường có năng lực cạnh tranh, năng lực tài chính, quản trị tốt, hay nói cách khác là có “sức khỏe tốt”, thực hiện có hiệu quả chức năng của thị trường; đồng thời, thị trường phải có cơ sở hạ tầng tài chính tốt như hệ thống thông tin thị trường, môi trường pháp lý cho hoạt động của thị trường, nền tảng công nghệ thông tin cho thị trường… và cuối cùng là ngân hàng trung ương thực hiện tốt vai trò người cho vay cuối cùng trên thị trường. Biểu hiện của một thị trường ổn định và phát triển là giá cả trên thị trường phản ánh sát cung cầu vốn và diễn biến ổn định, không dễ bị tổn thương bởi các cú sốc từ bên ngoài, những thông tin thất thiệt; các giao dịch trên thị trường thông suốt và nguốn vốn phân bổ một cách hiệu quả. TTTT ổn định và phát triển sẽ thực hiện có hiệu quả với các chức năng cơ bản như tăng khả năng thanh khoản của các công cụ tài chính; hỗ trợ vốn lưu động cho DN và tài trợ ngắn hạn cho ngân sách nhà nước; cung cấp lãi suất tham chiếu cho việc định giá các công cụ nợ khác; tăng khả năng kiểm soát cung tiền của ngân hàng trung ương và là cơ sở hạ tầng cho cơ chế truyền tải tác động của chính sách tiền tệ (CSTT) đến nền kinh tế. Với các chức năng trên, TTTT được coi là thị trường nền tảng cho việc tồn tại một hệ thống tài chính dựa trên thị trường hiệu quả và cạnh tranh. Trên thực tế, có một thị trường giao dịch liên ngân hàng phát triển sẽ đảm bảo cho TTTT ổn định, tránh tình trạng thanh khoản thấp và tránh các biến động mạnh của lãi suất.

Đứng trên giác độ này để đánh giá thì thấy TTTT của Việt Nam có mức độ phát triển thấp, mỏng manh, dễ bị tổn thương. Điều này thể hiện rõ nhất kể từ sau cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu năm 2008 đến nay, TTTT đã trải qua không ít những thăng trầm, nhất là thị trường ngoại hối.

Năm 2007 chứng kiến sự sôi động của TTTT Việt Nam kể từ khi Việt Nam gia nhập WTO. Dòng vốn đầu tư gián tiếp quốc tế đổ vào đã kích hoạt sự phát triển mạnh của thị trường chứng khoán, theo đó dòng vốn trên TTTT trở nên dồi dào, các ngân hàng thương mại với dòng vốn sẵn có đã mở rộng đầu tư tín dụng (tăng trưởng tín dụng bình quân toàn hệ thống năm 2007 khoảng 42%/năm), việc quản lý thanh khoản dường như chưa được các ngân hàng thương mại (NHTM) chú ý đúng mức, do vốn hoạt động của các NHTM luôn ở mức dư thừa (dự trữ vượt toàn hệ thống bình quân khoảng 18.000 tỷ VND). Khủng hoảng kinh tế toàn cầu xảy ra năm 2008, cùng với sự gia tăng mạnh của lạm phát (năm 2008 CPI của Việt Nam là 19,89%), buộc CSTT và chính sách tài khóa phải thực hiện những biện pháp thắt chặt, do vậy làm giảm sút mạnh dòng tiền chu chuyển trên TTTT, làm cho các NHTM đang trong trạng thái dư thưa vốn khả dụng, chuyển sang thiếu hụt, trong khi đó các NHTM cũng chưa sẵn sàng để thu hẹp đầu tư tín dụng. Thêm vào đó, cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu đã có tác động làm giảm mạnh dòng vốn đầu tư gián tiếp vào Việt Nam (nếu như không nói là đảo chiều). Năm 2007, dòng vốn này vào Việt Nam gần 7 tỷ USD thì năm 2008 chỉ là 508 triệu USD. Tất cả các động thái này đã làm cho diễn biến TTTT xấu đi, các NHTM thiếu vốn khả dụng đã đua nhau tăng lãi suất, đã có thời điểm trong năm 2008 lãi suất VND trên TTTT liên ngân hàng lên tới 30%/năm, tỷ giá biến động mạnh do sự giảm sút mạnh dòng vốn ngoại tệ vào Việt Nam…

Tình hình biến động của lãi suất và tỷ giá như vậy đã dẫn đến bất ổn định TTTT, gây đổ vỡ hệ thống ngân hàng và bất ổn kinh tế vĩ mô. Trước những diễn biến bất lợi này, bên cạnh những giải pháp vĩ mô để kiềm chế lạm pháp, ổn định vĩ mô của Chính phủ, Ngân hàng Nhà nước (NHNN) cũng đã có rất nhiều biện pháp để bình ổn thị trường, kỷ luật thị trường được thắt chặt và đến những tháng cuối năm 2011, tỷ giá đã giữ được ổn định, tình hình thanh khoản của thị trường phần nào đã được cải thiện.

Thị trường tiền tệ 6 tháng đầu năm 2012

Diễn biến của TTTT cuối năm 2011 nổi lên một số vấn đề cần tiếp tục xử lý như: áp lực về thanh khoản vẫn còn, lãi suất trên thị trường vẫn có xu hướng tăng do áp lực lạm phát còn cao, các giao dịch trên thị trường chưa thực sự thông suốt, các NHTM là thành viên chính của thị trường có sự phát triển chưa đồng đều, nhiều NHTM nhỏ đang phải đối mặt với tình hình thanh khoản khó khăn, nợ xấu gia tăng…

Tuy nhiên, trong 6 tháng đầu năm 2012, TTTT đã diễn biến theo xu hướng tích cực, áp lực tăng lãi suất năm 2011 đã được chuyển hướng bằng xu hướng giảm lãi suất mạnh trong 6 tháng đầu năm 2012, trần lãi suất huy động VND sau 3 lần điều chỉnh đã giảm từ mức 14% xuống còn 9% (bắt đầu từ 11/6), đặc biệt là lãi suất cho vay đã giảm mạnh từ mức phổ biến trên 18%/năm xuống 12-14%/năm đối với lĩnh vực cho vay nông nghiệp nông thôn, xuất khẩu và công nghiệp hỗ trợ; ở mức 14-16,5%/năm đối với các lĩnh vực sản xuất khác. Đối với ngoại tệ, lãi suất huy động và cho vay bằng ngoại tệ tương đối ổn định, lãi suất huy động phổ biến ở mức 2%/năm đối với tiền gửi của dân cư và 0,5 -1%/năm đối với tiền gửi của tổ chức kinh tế, lãi suất cho vay phổ biến ở mức từ 5,3-7,5%/năm. Diễn biến tỷ giá trên TTTT về cơ bản giữ được ổn định. Nhìn chung, trong 5 tháng đầu năm mức tỷ giá chỉ biến động xoay quanh tỷ giá bình quân liên ngân hàng, đạt kịch trần trong tháng 1 và tháng 2 và những ngày đầu tháng 6 có biến động tăng hơn một chút, do tác động tâm lý từ việc hạ nhanh lãi suất huy động VND. Cung ngoại tệ trên thị trường tương đối dồi dào, biểu hiện ở việc áp lực tăng tỷ giá là rất thấp và NHNN mua được nhiều ngoại tệ.

Tính thanh khoản của thị trường được cải thiện. Nếu như năm 2011, NHNN phải bơm một lượng lớn tiền để hỗ trợ thanh khoản cho thị trường thông qua OMO thì 6 tháng đầu năm 2012, NHNN đã hút một lượng lớn tiền từ thị trường thông qua việc bán tín phiếu NHNN (tổng số dư bán tín phiếu NHNN đến giữa tháng 6 vào khoảng 50-60.000 tỷ VND). Rõ nét nhất về tính thanh khoản của thị trường được cải thiện thể hiện ở mức lãi suất trên thị trường liên ngân hàng giảm mạnh, có thời điểm lãi suất liên ngân hàng có kỳ hạn từ qua đêm đến 1 tháng chỉ ở mức gần 2% – 4%/năm. Hiện nay, lãi suất liên ngân hàng đã tăng hơn, biểu hiện một xu hướng diễn biến tích cực của thị trường.

Những diễn biến tích cực của TTTT 6 tháng đầu năm có thể nói là kết quả của những giải pháp đúng hướng của Chính phủ trong việc kiềm chế lạm phát và ổn định kinh tế vĩ mô, trong đó CSTT đã đóng góp tích cực vào việc kiềm chế lạm pháp. Việc thắt chặt tiền tệ bằng công cụ hạn mức tín dụng, trần lãi suất tiền gửi cùng với những biện pháp mạnh mẽ trong việc xiết chặt kỷ luật thị trường trong những tháng cuối năm 2011 đã có tác động tích cực đến việc kìm chế lạm phát và bước đầu tạo nền tảng tốt cho việc cải thiện thanh khoản của hệ thống ngân hàng trong 6 tháng đầu năm 2012 và những tháng tiếp theo.

Bên cạnh đó, NHNN đã thực hiện tái cơ cấu mạnh mẽ các NHTM yếu kém (tác nhân gây tác động không nhỏ đến biến động lãi suất, tính thanh khoản trên TTTT), thực hiện các biện pháp ổn định thị trường vàng, thu hẹp đối tượng cho vay bằng ngoại tệ. Đồng thời, NHNN đã thiết lập được “cửa sổ” của TTTT, đây có thể nói là một thành công rất lớn để NHNN nắm bắt được thông tin thị trường một cách kịp thời phục vụ cho việc điều hành CSTT. Qua “cửa sổ” này, NHNN đã theo dõi sát những biến động về lãi suất, tỷ giá, các giao dịch hàng ngày trên TTTT liên ngân hàng nên đã chủ động sử dụng các công cụ CSTT để can thiệp, điều tiết những biến động bất thường của thị trường… Tất cả các động thái chính sách này đã có tác động cải thiện được tình trạng thị trường và diễn biến của thị trường đang, sẽ diễn ra theo xu hướng tích cực, ổn định trong những tháng tiếp theo.

Những tồn tại và giải pháp khắc phục

Mặc dù TTTT đã có sự ổn định bước đầu, tạo đà cho những bước phát triển tiếp theo, tuy nhiên, sự phát triển của thị trường còn một số tồn tại, hạn chế cần tiếp tục khắc phục, cụ thể:

– Sự luân chuyển vốn chưa thực sự thông suốt, do hệ thống doanh nghiệp (DN) Việt Nam đang gặp khó khăn trong sản suất và tiêu thụ sản phẩm, hàng tồn kho lớn… Theo số liệu của Bộ Công Thương, có 7.000 DN phá sản, 50.000 DN làm ăn thua lỗ báo dừng không nộp thuế trong năm 2011 và 12.000 DN giải thể trong quý I/2012; hàng tồn kho quý II/2012 tăng 63% so với cùng kỳ của năm 2011. Đây có thể nói là hệ lụy của các biện pháp chính sách kiểm chế lạm pháp, ổn định kinh tế vĩ mô năm 2011 và những bất ổn vĩ mô của các nước khu vực đồng Euro cùng với những khó khăn trong phục hồi tăng trưởng của kinh tế thế giới nói chung. Bối cảnh trên dẫn đến khả năng trả nợ ngân hàng của các DN là rất thấp, nợ xấu trong hệ thống ngân hàng đang có xu hướng gia tăng. Điều này đã gây ra ứ đọng về vốn, tín dụng ngân hàng khó gia tăng. Tính đến hết tháng 5/2012 dư nợ tín dụng ngân hàng chưa tăng so với số dư đến 31/12/2011, mặc dù NHNN và các NHTM đã hạ rất thấp mức lãi suất cho vay, mở rộng các đối tượng cho vay, một vài ngân hàng đã nới lỏng hơn các điều kiện cho vay so với năm 2011, song việc mở rộng tín dụng vẫn rất chậm;

– Sự phát triển không đồng đều của các thành viên trên thị trường, do còn tồn tại một số các định chế tài chính và DN yếu kém đã cản trở việc hình thành giá cả (lãi suất) dựa trên quan hệ cung cầu, do vậy việc hình thành đường cong lãi suất chuẩn của TTTT còn khó khăn;

– Vai trò người cho vay cuối cùng trên thị trường của NHNN chưa thực hiện được một cách hiệu quả. Trên TTTT liên ngân hàng vẫn còn tình trạng ngân hàng thừa vốn chưa cho ngân hàng thiếu vốn vay, ngân hàng thiếu vốn vẫn phải tiếp cận nguồn vốn từ NHNN. Nguyên nhân của tình trạng này là do hệ thống các NHTM đang trong quá trình tài cơ cấu, sự vay mượn lẫn nhau trên thị trường liên ngân hàng của các thành viên thị trường chưa thực sự thông suốt, do mức độ tín nhiệm lẫn nhau chưa cao;

– Thị trường thứ cấp về mua, bán lại giấy tờ có giá, trái phiếu Chính phủ giữa các định chế tài chính dường như chưa phát triển, mà giấy tờ có giá do các NHTM nắm giữ chủ yếu chỉ để mua bán lại với NHNN qua nghiệp vụ thị trường mở. Do vậy, có thể thấy tính thanh khoản của các công cụ tài chính trên thị trường chưa cao;

– Các nghiệp vụ trên TTTT còn chưa đa dạng, đặc biệt là các nghiệp vụ phái sinh còn rất kém phát triển (như các nghiệp vụ hoàn đổi, mua bán kỳ hạn… còn rất hạn chế).

Để khắc phục tình trạng này, NHNN đang tiếp tục đẩy mạnh tái cơ cấu các NHTM, đẩy nhanh tiến độ củng cố các NHTM yếu kém, mở rộng quy mô, năng lực tài chính của các NHTM hoạt động tốt, xử lý nợ xấu… Chủ trương thành lập công ty mua-bán nợ quốc gia của NHNN có thể là một giải pháp tốt để thúc đẩy nhanh dòng vốn trên TTTT. Tuy nhiên, giải pháp quan trọng hơn vẫn là việc tái cơ cấu hoạt động của các DN, nhất là DNNN, nâng cao năng lực tài chính, tạo môi trường pháp lý thuận lợi, tạo điều kiện mở rộng thị trường tiêu thụ sản phẩm cho các DN, nhất là DN nhỏ và vừa, các hộ nông dân, giải ngân nhanh các công trình xây dựng cơ sở hạ tầng, các dự án trong điểm của Nhà nước, để các DN có vốn trả nợ ngân hàng, qua đó mà thúc đẩy TTTT phát triển ổn định.

Bên cạnh đó, NHNN hiện đã và đang nỗ lực thực hiện các giải pháp nhằm nâng cao lòng tin của thị trường đối với các tín hiệu chính sách của NHNN, cũng như sự tin tưởng lẫn nhau giữa các thành viên thị trường như thực hiện minh bạch hóa thông tin, chủ động trong điều hành chính sách tiền tệ cùng với việc củng cố vững mạnh các định chế tài chính để tạo nền tảng cơ bản cho việc hình thành lãi suất trên thị trường dựa trên quan hệ cung cầu, qua đó có thể hình thành đường cong lãi suất chuẩn; tiếp tục hoàn thiện môi trường pháp lý cho hoạt động thị trường, tạo điều kiện thuận lợi để các NHTM phát triển đa dạng các sản phẩm dịch vụ ngân hàng, ứng dụng công nghệ ngân hàng hiện đại, thúc đẩy nhanh dòng chu chuyển vốn… Đồng thời, xử lý nghiêm khắc những hành vi sai phạm, giữ nghiêm kỷ luật thị trường.

Dự báo, việc hạ thấp mặt bằng lãi suất và tự do hóa lãi suất tiền gửi có kỳ hạn trên một năm, cùng với các biện pháp đẩy nhanh tái cơ cấu hệ thống ngân hàng và DN và các giải pháp hỗ trợ DN của Chính phủ, đẩy nhanh giải ngân các công trình, dự án trọng điểm… khả năng trong 6 tháng cuối năm 2012, thị trường tiền tệ, nhất là thị trường tín dụng sẽ khơi thông nguồn vốn tạo đà cho sự phát triển ổn định.

_____________________

Tài liệu tham khảo:

1. http://www.sbv.gov.vn;

2. http://www.gso.gov.vn.

TS. Nguyễn Thị Kim Thanh
Nguồn:Tạp chí Tài chính số 7/2012