Trong 4T/2012, xuất khẩu hàng hóa sang Hòa Kỳ tăng nhẹ
Người Việt Nam đang lo ngại sâu sắc về USD trong bối cảnh hệ thống tài chính của nước Mỹ tiếp tục ngập sâu trong rắc rối.

Trong quý 1/2012, kim ngạch xuất khẩu hàng hóa của nước ta sang Hoa Kỳ đạt 4,19 tỷ USD, tăng 19,6% so với quý 1/2011. Ước tính, trong tháng 4/2011, kim ngạch xuất khẩu sang Hoa Kỳ tiếp tục tăng nhe, đạt khoảng 1,7 tỷ USD, tính chung trong cả quý 2/2012, tổng kim ngạch xuất khẩu sẽ đạt trên 5 tỷ USD. Dự báo, trong năm 2012 tổng kim ngạch xuất khẩu hàng hóa của Việt Nam sang thị trường Hoa Kỳ sẽ đạt 20,04 tỷ USD.

Năm 2012, một số mặt hàng như: dệt may, thủy sản, giày dép, gỗ và sản phẩm gỗ… tiếp tục vẫn là các mặt hàng chủ lực được đẩy mạnh xuất khẩu sang thị trường Hoa Kỳ, bên cạnh đó việc mở rộng cơ cấu các mặt hàng tiềm năng khác như: hàng nông sản, túi xách va li và ô dù…. cũng được chú trọng.

Trong 3 tháng 2012, tổng kim ngạch nhập khẩu hàng hóa của nước ta từ thị trường Hoa Kỳ đạt 1,13 tỷ USD, tăng 7,98% so với cùng kỳ năm 2011. Ước tính, trong tháng 4/2012, kim ngạch nhập khẩu hàng hóa từ thị trường này sẽ duy trì ở mức trên 400 triệu USD, và dự báo trong quý 2/2012 kim ngạch nhập khẩu sẽ đạt 1,2 – 1,3 tỷ USD.

I.Diễn biến xuất nhập khẩu thực tế giữa Việt – Hoa Kỳ

1.Tình hình xuất khẩu

Kết thúc năm 2011, kết quả xuất khẩu sang thị trường Hoa Kỳ khá khả quan, đạt khoảng 17 tỷ USD, với tốc độ tăng trưởng đạt 20%. Với kết quả này, bước sang năm 2012 Hoa Kỳ vẫn là một trong số các thị trường xuất khẩu chủ lực của Việt , với kỳ vọng kim ngạch xuất khẩu sẽ đạt khoảng 20 tỷ USD.

Theo số liệu thống kê chính thức, trong tháng 3/2012, kim ngạch xuất khẩu sang thị trường Hoa Kỳ đạt 1,61 tỷ USD, tăng 19,32% so với tháng 2/2012, và tăng 14,4% so với tháng 3/2011; Hoa Kỳ tiếp tục là nhóm thị trường xuất khẩu đạt kim ngạch xuất khẩu trên 1 tỷ USD/tháng. Trong quý 1/2012, kim ngạch xuất khẩu hàng hóa sang Hoa Kỳ đạt 4,19 tỷ USD, tăng 19,6% so với quý 1/2011. Ước tính, trong tháng 4/2011, kim ngạch xuất khẩu sang Hoa Kỳ tiếp tục tăng nhe, đạt khoảng 1,7 tỷ USD, tính chung trong cả quý 2/2012, tổng kim ngạch xuất khẩu sẽ đạt trên 5 tỷ USD. Dự báo, trong năm 2012 tổng kim ngạch xuất khẩu hàng hóa của Việt Nam sang thị trường Hoa Kỳ sẽ đạt 20,04 tỷ USD.

Dù thành công trong việc tăng trưởng và phát triển các thị trường mới, nhưng Hoa Kỳ vẫn là thị trường xuất khẩu chiến lược của ngành dệt may Việt . Đẩy mạnh xuất khẩu và gia tăng thị phần hàng dệt may của ta tại thị trường này vẫn là mục tiêu xuyên suốt quá trình phát triển của ngành. Năm 2011, kim ngạch xuất khẩu mặt hàng này của Việt Nam sang thị trường Hoa Kỳ đạt 6,85 tỷ USD, tăng 12% so với năm 2010, chiếm tới 49% tổng kim ngạch xuất khẩu sang tất cả các thị trường.

Sang năm 2012, xuất khẩu hàng dệt may của nước ta chắc chắn sẽ tăng trưởng chậm lại, do chịu tác động của suy thoái kinh tế kéo dài, người tiêu dùng tiếp tục thắt chặt chi tiêu, số lượng đơn hàng giảm. Tuy nhiên, triển vọng xuất khẩu sang thị trường Hoa Kỳ vẫn khả quan (thị trường tiêu thụ lớn). Dự báo, nhập khẩu hàng dệt may của Hoa Kỳ trong năm 2012 tiếp tục trong xu hướng giảm, do ảnh hưởng của khủng hoảng tài chính, người tiêu dùng Hoa Kỳ tiếp tục thắt chặt chi tiêu. Tuy nhiên, nhập khẩu hàng dệt may của Hoa Kỳ từ Việt trong 2012 vẫn tăng trưởng nhưng tốc độ chậm lại. Tăng trưởng kim ngạch xuất khẩu hàng dệt may của nước ta sang thị trường này tăng khoảng 10% so với năm 2011, đạt 7 – 7,5 tỷ USD.

Trong tháng 3/2012, dệt may tiếp tục là mặt hàng dẫn đầu được xuất khẩu nhiều nhất sang thị trường Hoa Kỳ, với kim ngạch đạt 599,89 triệu USD, tăng 14,8% so với tháng 2/2012 và tăng 6,35% so với tháng 3/2011. Như vậy, trong quý 1/2012, tổng kim ngạch xuất khẩu hàng dệt may sang thị trường này đạt 1,68 tỷ USD, so với cùng kỳ năm 2011 tăng 14,78%.

Việt Nam đã vươn lên là nhà cung cấp hàng giày dép lớn thứ hai vào thị trường Hoa Kỳ, sau Trung Quốc.Thị phần mặt hàng này của Việt Nam trong tổng kim ngạch nhập khẩu giày dép của Hoa Kỳ đã tăng lên hơn 8% so với mức hơn 6% của năm ngoái. Mặc dù xuất khẩu giầy dép sang thị trường Hoa Kỳ chỉ chiếm 25% tổng kim ngạch xuất khẩu mặt hàng này của nước ta, nhưng với tốc độ tăng trưởng cao, cộng với nhu cầu thị trường lớn thì việc thúc đẩy xuất khẩu vào thị trường này rất cần thiết, nhất là trong bối cảnh xuất khẩu vào EU giảm sút. Hằng năm, nhập khẩu giày dép của Hoa Kỳ từ nước ngoài lên tới 20 tỷ USD, chiếm trên 87% nhu cầu giày dép của thị trường này. Trong quý 1/2012, kim ngạch xuất khẩu giày dép sang Hoa Kỳ đạt 439,58 triệu USD, tăng 15,83% so với quý 1/2011.

Trong tháng 3/2012, hai mặt hàng xuất khẩu chủ lực tiếp theo là gỗ và sản phẩm gỗ và hàng thủy sản, với kim ngạch đạt lần lượt là 148,44 triệu USD và 108,14 triệu USD, so với tháng trước xuất khẩu gỗ và sản phẩm gỗ tăng 29,36% và xuất khẩu thủy sản tăng 38,78%. Tính chung trong 3 tháng đầu năm, xuất khẩu gỗ và sản phẩm gỗ đạt 363,78 triệu USD, tăng 33,13% so với 3 tháng/2011; đồng thời xuất khẩu thủy sản cũng tăng 22,12%, và đạt 243,9 triệu USD.

Hiện tại, Việt Nam đã trở thành thị trường cung cấp thủy sản lớn thứ 4 cho Hoa Kỳ về lượng và thứ 5 về kim ngạch, tăng hai bậc so với cùng kỳ năm trước. Chủng loại thủy sản được xuất khẩu nhiều nhất sang thị trường Hoa Kỳ là cá tra, trong năm 2012 thị trường này được đánh giá là khá triển vọng cho xuất khẩu cá tra Việt Nam. Việc đứng vị trí thứ 9 trong top 10 các loài thủy sản được ưa thích tại Hoa Kỳ năm 2010, nhiều doanh nghiệp xuất khẩu được giảm thuế chống bán phá giá từ mức 2,44 – 4,22% xuống còn từ 0 – 0,02%… cũng là một bước thuận lợi để ngành cá tra Việt Nam tiến bước trên thị trường thế giới.

Dự kiến trong cả năm 2012, những mặt hàng này tiếp tục vẫn là một trong số các mặt hàng chủ lực được đẩy mạnh xuất khẩu sang thị trường Hoa Kỳ, bên cạnh đó việc mở rộng cơ cấu các mặt hàng tiềm năng khác như: hàng nông sản, túi xách va li và ô dù…. cũng được chú trọng.

Tham khảo một số mặt hàng xuất khẩu sang thị trường Hoa Kỳ trong T3 và 3T/2012

Mặt hàng

T3/12

(USD)

So T2/12

(%)

So T3/11

(%)

3T/12

(USD)

So 3T/12

(%)

Tổng

1.611.453.403

19,32

14,40

4.194.111.268

19,60

Hàng dệt, may

599.892.466

14,80

6,35

1.677.676.447

14,78

Giày dép các loại

158.412.643

14,02

6,24

439.578.760

15,83

Gỗ và sản phẩm gỗ

148.441.931

29,36

35,47

363.787.777

33,13

Hàng thủy sản

108.141.361

38,78

36,79

243.905.043

22,12

Máy móc, t/bị, dụng cụ, phụ tùng

88.247.622

26,46

106,83

210.173.605

102,93

Máy vi tính, sản phẩm điện tử và lk

71.615.618

4,56

79,39

194.144.133

72,99

Cà phê

52.637.767

11,73

-10,02

140.403.987

5,17

Túi xách, ví,vali, mũ và ô dù

50.479.584

33,00

28,12

121.794.859

36,86

Phương tiện vận tải và phụ tùng

40.732.567

18,45

133,34

101.096.984

-1,57

Sản phẩm từ sắt thép

35.691.420

-1,36

97,05

98.363.278

150,69

Hạt điều

30.315.547

36,49

27,72

66.644.345

0,52

Dầu thô

25.000.000

-16,67

-70,49

64.351.642

-24,05

Điện thoại các loại và linh kiện

16.434.650

62,99

12,76

36.630.837

-3,40

Sản phẩm từ chất dẻo

15.499.264

36,66

78,13

36.655.931

52,20

Dây điện và dây cáp điện

12.023.160

9,38

-35,24

34.397.512

-24,92

Hạt tiêu

10.653.433

85,00

7,66

18.594.526

3,94

Đá quý, kim loại quý và sản phẩm

9.915.483

462,90

58,40

16.258.260

-4,17

Giấy và các sản phẩm từ giấy

7.364.118

90,40

-46,81

13.170.188

-41,43

Kim loại thường khác và sp

6.417.763

20,25

-34,06

15.414.908

-27,99

Cao su

6.238.112

-17,91

181,14

17.002.705

-26,12

Xăng dầu các loại

5.586.472

*

23,29

5.586.472

-38,38

Sản phẩm từ cao su

4.329.260

10,91

27,67

10.602.469

36,92

Xơ, sợi dệt các loại

4.254.707

32,98

44,24

9.332.475

41,39

Sản phẩm mây, tre, cói và thảm

3.882.095

31,36

60,89

10.078.009

40,43

Sản phẩm gốm, sứ

3.865.223

-0,52

13,04

12.538.814

8,83

Thủy tinh và các sp từ thủy tinh

3.516.482

20,98

38,47

8.927.049

37,89

Bánh kẹo và các sp từ ngũ cốc

2.910.596

55,62

-1,17

6.079.906

0,77

Hàng rau quả

2.710.667

11,75

8,23

7.093.701

23,71

Sắt thép các loại

1.621.129

293,94

153,30

2.192.046

132,00

Gạo

1.250.411

3,57

71,46

3.189.991

101,13

Chè

600.580

-3,68

74,27

1.537.797

52,97

Sản phẩm hóa chất

558.070

5,91

-42,11

2.143.723

-51,41

Hóa chất

551.255

15,24

-4,20

2.005.165

2,83

Máy ảnh, máy quay phim và lk

139.003

-78,67

-97,27

848.626

-93,43

(Nguồn: Tổng cục Hải Quan)

1.Tình hình nhập khẩu

Trong năm 2011, kim ngạch nhập khẩu hàng hóa của nước ta từ thị trường Hoa Kỳ đạt khoảng 4,3 tỷ USD, tăng 14,12% so với năm 2010, trung bình mỗi tháng kim ngạch nhập khẩu hàng hóa từ thị trường này đạt khoảng 358 triệu USD. Dự báo, năm 2012 kim ngạch nhập khẩu hàng hóa của Việt Nam từ thị trường này sẽ đạt khoảng 4,94 tỷ USD, tăng 15%  so với năm 2011.

Tổng kim ngạch xuất nhập khẩu giữa Việt Nam và Hoa Kỳ trong năm 2011 đạt xấp xỉ 21 tỷ USD, tăng 16,6% so với năm 2010, và cán cân thương mại vẫn nghiêng về phía Việt Nam là 12,39 tỷ USD. Kể từ năm 2007 trở lại đây, Việt luôn là nước xuất siêu sang thị trường Hoa Kỳ và kim ngạch xuất siêu liên tục tăng cao qua các năm.

Trong tháng 3/2012, kim ngạch nhập khẩu hàng hóa đạt 404,18 triệu USD, tăng nhẹ 2,11% so với tháng 2/2012, nhưng giảm 4,87% so với tháng 3/2011. Tính chung trong 3 tháng vừa qua, tổng kim ngạch nhập khẩu từ Hoa Kỳ đạt 1,13 tỷ USD, tăng 7,98% so với cùng kỳ năm 2011. Ước tính, trong tháng 4/2012, kim ngạch nhập khẩu hàng hóa từ thị trường này sẽ duy trì ở mức trên 400 triệu USD, và trong quý 2/2012 kim ngạch nhập khẩu sẽ đạt 1,2 – 1,3 tỷ USD.

Trong tháng 3/2012, hai mặt hàng được nhập khẩu nhiều nhất từ thị trường Hoa Kỳ là máy tính linh kiện điện tử và máy móc thiết bị, với kim ngạch nhập khẩu máy tính linh kiện điện từ đạt 74,83 triệu USD, giảm 11,98% so với tháng 2/2012; ngược lại nhập khẩu máy móc thiết bị đạt 68,35 triệu USD, tăng 3,33%.Tiếp đến là mặt hàng thức ăn chăn nuôi, giảm 11,37%, đạt 25,42 triệu USD; nhập khẩu bông các loại từ thị trường Hoa Kỳ cũng giảm 17,06%, đạt 18,1 triệu USD…

Tham khảo một số mặt hàng nhập khẩu từ thị trường Hoa Kỳ trong tháng 3 và 3T/2012

Mặt hàng

T3/12

(USD)

So T2/12

(%)

So T3/11

(%)

3T/12

(USD)

So 3T/12

(%)

Tổng

404.179.998

2,11

-4,87

1.127.242.898

7,98

Máy vi tính, sản phẩm điện tử và lk

74.836.940

-11,98

636,37

254.143.115

795,86

Máy móc, t/bị, dụng cụ, phụ tùng

68.358.314

3,33

-12,76

192.074.250

9,30

Thức ăn gia súc và nguyên liệu

25.428.704

-11,37

0,51

76.977.190

26,24

Bông các loại

18.543.826

-17,06

-76,52

50.960.533

-73,12

Phế liệu sắt thép

18.107.989

433,08

-23,91

26.287.810

-69,40

Gỗ và sản phẩm gỗ

17.094.543

-7,66

30,29

43.108.036

53,10

Phương tiện vận tải, phụ tùng

15.056.807

842,94

360,41

21.751.911

97,88

Chất dẻo nguyên liệu

14.844.923

-15,02

-21,34

45.183.206

-1,39

NPL dệt, may, da, giày

12.685.661

-0,27

-22,56

32.021.618

-18,39

Hóa chất

11.844.502

40,24

-2,90

26.502.122

-1,93

Sữa và sản phẩm sữa

11.210.727

-10,26

-51,94

30.168.094

-31,35

Sản phẩm từ sắt thép

6.791.483

41,64

-28,21

16.552.480

-23,30

Dược phẩm

5.212.343

23,31

-24,48

12.196.037

-1,96

Sản phẩm từ chất dẻo

4.819.486

21,25

88,32

11.743.271

67,34

Hàng thủy sản

3.542.476

53,62

-1,06

6.468.305

62,03

Sản phẩm hóa chất

3.536.095

13,74

-71,59

16.444.555

-47,73

Cao su

3.425.640

133,61

97,21

5.801.075

-8,31

Hàng rau quả

2.582.069

18,36

118,20

8.978.048

7,03

Nguyên phụ liệu thuốc lá

1.906.888

*

-24,49

1.907.688

-68,06

Sản phẩm từ cao su

1.905.771

57,59

69,51

4.045.697

56,60

Vải các loại

1.839.327

-11,04

-25,32

5.027.689

-14,45

Đá quý, kim loại quý và sp

1.650.523

-50,16

89,44

6.461.838

169,39

Giấy các loại

1.557.164

-67,73

30,68

8.395.368

217,48

Mặt hàng

T3/12

(USD)

So T2/12

(%)

So T3/11

(%)

3T/12

(USD)

So 3T/12

(%)

Lúa mì

1.411.550

-46,17

-92,33

6.840.357

-68,57

Phân bón các loại

1.140.216

447,91

286,88

1.520.015

35,95

Dây điện và dây cáp điện

1.094.661

4,31

71,26

2.714.463

45,44

Ô tô nguyên chiếc các loại

1.044.613

-49,91

-78,66

4.370.028

-77,70

Thuốc trừ sâu và nguyên liệu

965.599

-9,97

60,07

3.418.949

21,90

Dầu mỡ động thực vật

863.122

72,94

128,07

1.397.566

8,89

SP từ kim loại thường khác

709.952

43,86

252,70

1.519.029

150,96

Sắt thép các loại

673.375

9,90

-4,27

3.176.203

-65,50

Sản phẩm khác từ dầu mỏ

653.149

-50,55

-31,51

2.695.888

-6,66

Sản phẩm từ giấy

573.728

56,84

-38,57

1.344.272

-44,09

Linh kiện, phụ tùng ô tô

408.238

-15,95

0,94

1.185.804

-7,83

Kim loại thường khác

342.154

18,46

-55,90

772.601

-51,48

Bánh kẹo và các sp từ ngũ cốc

188.373

-1,89

45,13

463.395

37,42

Điện thoại các loại và linh kiện

61.285

-45,37

-72,30

185.541

-63,45

Ngô

31.302

*

33,51

62.870

-92,93

(Nguồn: Tổng cục Hải Quan)

II. Đánh giá thuận lợi và khó khăn khi xuất khẩu hàng hóa sang Hoa Kỳ trong năm 2012

Đánh giá chung:  Hoa Kỳ vẫn là một thị trường lớn và đầy tiềm năng cho các sản phẩm xuất khẩu của Việt . Kể từ cuối năm 2011, nền kinh tế Hoa Kỳ bất ngờ chứng kiến tốc độ tăng trưởng mạnh mẽ nhất kể từ đầu năm 2011, mở ra những hy vọng khá lạc quan trong năm 2012 cho nền kinh tế hàng đầu thế giới cũng như kinh tế toàn cầu.

Hoa Kỳ là thị trường luôn dẫn đầu kim ngạch xuất khẩu (XK) hàng hóa của Việt , đạt 16,7 tỷ USD trong năm 2011, chiếm 17,4% trong tổng kim ngạch hàng hóa XK của nước ta. Tuy nhiên, trước những biến động của nền kinh tế thế giới và ở Hoa Kỳ, các chuyên gia dự báo năm 2012 sẽ là năm khó khăn hơn cho hoạt động XK vào thị trường này nên kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam vào thị trường Hoa Kỳ chỉ tăng nhẹ đạt 17-18 tỷ USD. 

Xuất khẩu hàng hóa của Việt sang Hoa Kỳ tăng 20%/năm, nếu vẫn giữ đà này thì tới năm 2015, mức xuất khẩu sẽ đạt gấp đôi, khoảng 30 tỷ USD/năm. Tuy nhiên, với thị trường Hoa Kỳ, trao đổi thương mại có những đặc thù riêng so với các thị trường khác, bởi chúng ta luôn gặp phải những vụ kiện chống bán phá giá, chống trợ cấp… Hoa Kỳ là một thị trường có những luật lệ chặt chẽ, phức tạp thậm chí là rắc rối. Thương mại mang màu sắc chính trị rất lớn, ở Hoa Kỳ có ba giới mà các doanh nghiệp xuất khẩu cần quan tâm, đó là chính giới (các cơ quan chính phủ), giới nghị sĩ và giới học giả, cả ba giới này đều có thể can thiệp sâu tới chính sách thương mại của Hoa Kỳ. Do đó, hàng hoá của Việt thường xuyên phải đối mặt với các hàng rào về kỹ thuật, an toàn vệ sinh thực phẩm và khả năng bị kiện chống bán phá giá.

Một số khó khăn khi tham gia xuất khẩu sang Hoa Kỳ trong năm 2012

+ Sức mua sụt giảm

Theo thông tin từ một số doanh nghiệp kinh doanh thủ công Mỹ nghệ, từ cuối năm 2011, Hoa Kỳ yêu cầu cắt giảm gần 50% khối lượng đơn hàng của tháng 1/2012 và còn dự kiến sẽ cắt giảm 20 – 30% đơn hàng ở các tháng tiếp theo tùy vào tình hình thị trường. Bên cạnh đó, đối tác của công ty này còn yêu cầu giảm thêm 10 – 15% giá trị đơn hàng do sức mua của thị trường đang giảm mạnh.

Mặc dù lượng đơn hàng bị cắt giảm mạnh tác động đến việc đảm bảo doanh thu của doanh nghiệp, nhưng các công ty Việt vẫn phải đồng ý theo yêu cầu đối tác để giữ khách hàng trong bối cảnh nền kinh tế khó khăn.

Khó khăn trên không chỉ đến với những doanh nghiệp hàng thủ công Mỹnghệ xuất khẩu mà còn ở nhiều ngành hàng truyền thống xuất khẩu sang thị trường Hoa Kỳ như dệt may, da giày, đồ gỗ, thủy sản…, tình trạng sụt giảm đơn hàng từ 25 – 30% cho những tháng đầu năm đã thấy rõ từ cuối năm 2011 khi đơn đặt hàng mà các doanh nghiệp nhận về giảm mạnh.

Thực tế trên là kết quả thấy rõ nhất từ những tác động khá ảm đạm của nền kinh tế Hoa Kỳ trong năm 2011 và còn được dự báo sẽ tiếp tục trong năm nay. Do vậy, các chuyên gia cho rằng trong những tháng tới, doanh nghiệp của Việt Nam sẽ chịu tác động mạnh mẽ từ những khó khăn của nền kinh tế Hoa Kỳ, mà trước hết là sự thu hẹp đơn hàng và khách hàng. Bên cạnh đó, do thị trường bị thu hẹp nên tính cạnh tranh sẽ ngày càng tăng lên khi hàng hóa của Việt Nam phải cạnh tranh gay gắt với hàng giá rẻ, đặc biệt là hàng Trung Quốc, Thái Lan, Malaysia…

+ Một số rào cản

Tuy nhiên, bên cạnh những khó khăn do suy giảm sức mua, các chuyên gia đặc biệt cảnh báo doanh nghiệp của Việt Nam cần thận trọng hơn trước những rào cản thương mại đang ngày càng tăng lên ở Hoa Kỳ. Hoa Kỳ là quốc gia có hệ thống pháp luật phức tạp, với nhiều rào cản kỹ thuật trong thương mại. Đặc biệt, trong bối cảnh nền kinh tế khó khăn thì xu hướng bảo hộ cho hàng hóa của các doanh nghiệp sản xuất trong nước lại càng tăng lên.

Thực tế, đa phần các sản phẩm xuất khẩu chính của Việt Nam sang thị trường này, hoặc bị “vướng” vào những vụ kiện chống bán phá giá, chống trợ cấp như cá tra, cá basa; dệt may; túi nhựa; sản phẩm thép, mắc áo… hoặc cả những sản phẩm đứng trước nguy cợ bị kiện như đồ gỗ, thủy sản…

Trong năm 2011 không chỉ được xem là năm mà số vụ kiện thương mại từ Hoa Kỳ đến với các doanh nghiệp xuất khẩu của Việt Nam tăng lên mà phía Hoa Kỳ còn đưa thêm những đạo luật mới nhằm tạo nên rào cản thương mại cho doanh nghiệp Việt Nam như vụ kiện sản phẩm thép, mắc áo thép đã chính thức bị khởi kiện vào cuối năm 2011.

Ngoài ra, việc thông qua một số đạo luật như Luật Hiện đại hóa an toàn thực phẩm: yêu cầu kiểm tra chỉ tiêu dư lượng thuốc bảo vệ thực vật trong tất cả các lô hàng; Luật Vi phạm quyền sở hữu trí tuệ trong lĩnh vực công nghệ thông tin nhằm ngăn chặn các doanh nghiệp xuất khẩu sử dụng phần mềm bất hợp pháp trong kinh doanh ở mọi hoạt động… cũng đã gây không ít khó khăn cho các doanh nghiệp

+ Khó khăn khi xuất khẩu hàng nông sản vào thị trường Hoa Kỳ

Theo đánh giá của giới chuyên gia, trong thời gian tới, hàng hóa nông sản Việt Nam xuất khẩu vào Hoa Kỳ sẽ gặp nhiều khó khăn hơn khi Hoa Kỳ sẽ thực hiện kiểm tra chất lượng các mặt hàng nông sản nhập khẩu vào Hoa Kỳ theo Luật Hiện đại hóa An toàn thực phẩm (FSMA) mới được Chính phủ nước này ban hành. Cụ thể, theo đạo luật, từ năm 2012, Hoa Kỳ sẽ thực hiện quy trình kiểm tra hết sức ngặt nghèo đối với các sản phẩm hàng hóa của tất cả các nước khi xuất khẩu vào thị trường này, bao gồm nông sản, đồ ăn, đồ uống. Cũng theo FSMA, Bộ Nông nghiệp Hoa Kỳ sẽ có quyền ra lệnh kiểm tra hoặc thu hồi sản phẩm xuất khẩu vào Hoa Kỳ nếu không đảm bảo chất lượng đồng thời tính phí cho chủ hàng xuất khẩu sản phẩm đó.

+ Đã có 36 loại rau của Việt sang Hoa Kỳ

Tính đến thời điểm này, đã có 36 loại rau của Việt Nam xuất khẩu sang thị trường Hoa Kỳ với tổng kim ngạch đạt 1,1 triệu USD. Trong số 36 loại này, nấm rơm muối, nấm rơm đóng lon đạt kim ngạch cao nhất.

Đứng thứ hai là mặt hàng ngô non đóng lon, ngô luộc. Ngoài rau, các loại khoai lang, hành củ, tỏi, gừng, nghệ… cũng được người  Mỹ ưa dùng.

Việt Nam được đánh giá là một trong số 15 quốc gia xuất khẩu nông sản nhiều nhất vào thị trường Mỹ. Không ít mặt hàng nông sản Việt Nam như hạt điều, cà phê, thủy sản (tôm, cá tra), hồ tiêu, cao su, đồ gỗ chế biến và nhiều mặt hàng trái cây khác được chấp thuận vào thị trường Hoa Kỳ sau khi Việt Nam đảm bảo các yêu cầu về mặt an toàn vệ sinh thực phẩm.

Thay đổi rõ nét nhất là Hoa Kỳ đã tăng nhập khẩu cho các sản phẩm rau, quả tươi và giảm dần các sản phẩm rau, quả đóng hộp.Tuy nhiên, thời gian tới, nông sản Việt Nam cần phải vượt qua rào cản cao hơn khi Hoa Kỳ thực hiện kiểm tra chất lượng các mặt hàng nông sản nhập khẩu theo quy định của nước này. Theo đó, Hoa Kỳ sẽ thực hiện quy trình kiểm tra ngặt nghèo đối với các sản phẩm hàng hóa của các nước khi xuất khẩu vào thị trường nước này. Bộ Nông nghiệp Hoa Kỳ có quyền ra lệnh kiểm tra hoặc thu hồi sản phẩm xuất khẩu vào Hoa Kỳ nếu không đảm bảo chất lượng và tính phí cho chủ hàng xuất khẩu sản phẩm đó.