TTCK Việt Nam dưới mắt người Việt ở nước ngoài
Người Việt Nam đang lo ngại sâu sắc về USD trong bối cảnh hệ thống tài chính của nước Mỹ tiếp tục ngập sâu trong rắc rối.

Thị trường chứng khoán (TTCK) trở thành sân chơi cho rất nhiều nhà đầu tư, đầu cơ lớn và nhỏ, đã đem lại những nguồn lợi lớn cho họ. Nhiều “triệu phú đôla” đã xuất hiện nhờ chứng khoán. Vậy mà hiện giờ, tài sản của những người đầu tư và đầu cơ chứng khoán bị tiêu hao hàng ngày. Mỗi sáng đọc bản tin chứng khoán, người giữ cổ phiếu thấy mình lại mất đi một khoản tiền lớn. Giá chứng khoán xuống triền miên, thị trường ảm đạm là bởi lẽ gì?

Từ khi hình thành đến nay, chỉ số VN-Index của TTCK đã có nhiều phen thăng trầm. Khởi đầu từ 100 điểm, VN-Index đã nhanh chóng vượt qua mốc 500 rồi lại trở về gần 150 điểm. Tiếp theo là thời kỳ trầm lắng gần bốn năm để lấy đà cho thời kỳ leo núi ngoạn mục 2006-2007 vượt mốc 1.100 điểm, để rồi vừa qua xuống dốc không phanh. Từ khi rất ít người biết đến chứng khoán, cho đến nay đi đâu cũng nghe bàn tán chứng khoán, từ công sở cho đến hàng nước vỉa hè, đâu đâu cũng thấy sôi nổi đề tài chứng khoán. Sách dạy và các khóa học đào tạo chứng khoán ngày càng nhiều. Số người hiểu biết và các chuyên gia chứng khoán ngày càng đông.

Có nhiều hiện tượng trùng lặp với những gì đã xảy ra trên TTCK của các nước Đông Âu trong thời kỳ 1991-1998. Chỉ số của TTCK Hungary trong năm 1996 đã tăng trên 300%, năm 1997 còn tăng tiếp 100% nữa để rồi năm 1998 xuống 70% giá năm 1997. Khi giá chứng khoán cao, nhiều chuyên gia, tổ chức đã cảnh báo sự sụp đổ, nhưng không ai thèm để ý.

Tiền đổ vào chứng khoán ngày càng nhiều, khiến cho lãnh đạo một số doanh nghiệp có cổ phiếu niêm yết thấy hoạt động kinh doanh chính không thể đem lại lợi nhuận như chứng khoán, bèn xoay ra kinh doanh cổ phiếu của chính mình. Khởi đầu bằng những vụ tăng vốn, phát hành thêm cổ phiếu, rồi bày ra những hợp đồng béo bở, vẽ ra những dự án đầy triển vọng với mục đích thổi giá chứng khoán. Cuối cùng những công ty đó đều bị thất bại khi giá cổ phiếu xuống dưới mệnh giá và phải rút khỏi TTCK.

Điểm đặc biệt, chỉ xảy ra ở Việt Nam là khi công ty nào thông báo chia cổ tức bằng cổ phiếu hoặc phát hành cổ phiếu thưởng và cả khi bán cổ phiếu giá ưu đãi thì giá cổ phiếu của công ty đó trên thị trường lên mạnh, dù việc đó không ảnh hưởng gì đến giá trị của công ty trong cùng thời điểm. Thậm chí có công ty phải bỏ ra khoản tiền chi phí cho việc phát hành cổ phiếu mới.

Nhiều công ty chạy theo phong trào, nhảy vào những lĩnh vực trái với chuyên ngành, ví dụ công ty kinh doanh tổng hợp và buôn bán bất động sản đi xây nhà máy thủy điện, còn công ty sản xuất điện lại mở chi nhánh để buôn bán bất động sản hoặc công ty tin học đi thành lập công ty chứng khoán và ngân hàng. Trong khi các nhà đầu tư chứng khoán có thể làm tốt hơn bằng cách mua cổ phiếu của từng công ty chuyên ngành, họ lại đầu tư vào công ty điện vì công ty này có thị trường ổn định, không phải lấy tiền đầu cơ bất động sản hoặc chứng khoán với mức độ mạo hiểm lớn hơn.

Khi giá cổ phiếu còn rất nóng mà có nhà đầu tư lớn (thường gọi là cổ đông chiến lược) mua cổ phần trong công ty thì họ được phép mua với giá thấp hơn so với giá thị trường, khác hẳn với các thị trường phát triển, nhà đầu tư lớn thường phải trả giá cao hơn so với giá thị trường từ 30-100%.

Hiện nay trên TTCK Việt Nam chưa có nhiều nhà đầu tư thực sự, ví dụ những quỹ bảo hiểm nhân thọ, quỹ bảo hiểm y tế và các quỹ hưu trí. Phần lớn các nhà đầu tư mua chứng khoán với mục đích đầu cơ, thu lợi nhanh. Ngay cả các quỹ đầu tư nước ngoài cũng vậy, thường là các quỹ mạo hiểm, không có mục đích đầu tư lâu dài. Vì vậy những mánh khóe làm giá, thổi giá, khuấy động đám đông đã được áp dụng một cách ngoạn mục. Phần lớn các nhà đầu tư, đầu cơ nhỏ chạy theo đám đông, góp phần tăng cường độ cho những cơn sóng do một số người tạo ra.

Giá chứng khoán cao không phải do các chỉ số như P/E (Price per Earning), P/BV (Price per Book Value)… hoặc các phương pháp tính như DCF (Discounted Cash Flow Model) quyết định, mà do đám đông cố chen nhau nhảy vào mua bán. Đối với một nhà đầu tư nhỏ, việc khó nhất là đoán xem đám đông sẽ nghĩ gì trong thời gian tới. Nhưng những nhà đầu tư lớn lại dễ dàng điều khiển đám đông nhờ tốc độ truyền tin nhanh chóng của các phương tiện truyền thông hiện đại.

Chỉ số VN-Index vẫn chưa tìm thấy điểm đáy do nhiều nguyên nhân. Yếu tố bong bóng đã bị xì hơi rồi cộng thêm môi trường đầu tư cả trong và ngoài nước đều bị xấu đi. Cơn khủng hoảng tài chính thế giới vẫn kéo dài. Đồng tiền dễ đã không còn nữa, nhiều doanh nghiệp và ngân hàng đang phải trả giá cho sự quá lạc quan của họ trong thời gian qua.

Trong công thức định giá cổ phiếu của Việt Nam, chỉ số lãi suất đã lên tới 15% và lạm phát trên 20%. Xin đưa một ví dụ để so sánh: ở châu Âu, lãi suất ngân hàng của euro là 4%, chỉ số lạm phát 3,2%, mà chỉ số P/E của một số công ty như của BMW (hãng sản xuất xe hơi nổi tiếng thế giới) là 7,5 lần; của Allianz (công ty bảo hiểm và tài chính lớn) dưới 9 lần!

Những nhà đầu tư, đầu cơ cá nhân trên TTCK Việt Nam đến nay đã được trang bị nhiều kiến thức lý thuyết (thông qua các lớp đào tạo chứng khoán) và kinh nghiệm thực tiễn (qua sự thành công hoặc thất bại của bản thân trong thời gian vừa rồi) nên không dễ bị mắc lừa do ấu trĩ nữa, nhưng số người thành công và trụ lại trên thị trường lại không nhiều.

Kosztolany Andras, một nhà đầu tư chứng khoán nổi tiếng gốc Hungary từng sống qua các thời kỳ khủng hoảng, trong đó có đại khủng hoảng thế giới năm 1929 đã nêu rằng để thành công trong đầu tư chứng khoán, bạn phải có năm yếu tố: thứ nhất là kiến thức, thứ hai là tiền, thứ ba là lòng tin, thứ tư là sự kiên nhẫn và thứ năm là sự may mắn. Nếu người nào đó có đủ năm yếu tố đó thì hãy tiếp tục bám lấy TTCK vì sau thời kỳ khủng hoảng, thị trường sẽ đào thải những phần tử không lành mạnh để phát triển một cách vững chắc hơn. Dưới con mắt của người nước ngoài, Việt Nam vẫn có nhiều cơ hội đầu tư đầy triển vọng.

 Từ bên ngoài, đã có những dự đoán về tương lai của TTCK Việt Nam như sau:

 – Nhiều công ty niêm yết có tính thanh khoản kém sẽ rút khỏi sàn.
 – Nhiều công ty chứng khoán nhỏ sẽ bị phá sản hoặc phải nhập vào công ty lớn. Chỉ có các công ty chứng khoán có ngân hàng lớn đứng sau mới làm ăn có hiệu quả.
 – Số người chơi chứng khoán sẽ giảm nhiều, nhưng chuyên nghiệp hơn.
 – Các doanh nghiệp lớn như Vietcombank, BIDV, Petrolimex, Bưu chính viễn thông, Điện lực… sẽ ra sàn và làm thay đổi cán cân của VN-Index, tạo ra một biểu đồ mới cho sự phát triển của thị trường.
 – Các quỹ đầu tư trong nước sẽ được thành lập nhiều hơn. Các quỹ đầu tư nước ngoài có quy mô lớn sẽ vào nhiều.
 – Sau một thời kỳ dao động với biên độ nhỏ dần, chỉ số VN-Index sẽ tăng một cách bền vững.

 Chúng ta chờ xem những dự báo đó có chính xác không.

 Budapest – Hungary, tháng 6-2008
Nguồn: Doanh nhân Sài Gòn Cuối tuần