Vấn đề có ý nghĩa quyết định là tư cách và địa vị pháp lý của tổ chức bảo hiểm tiền gửi
Người Việt Nam đang lo ngại sâu sắc về USD trong bối cảnh hệ thống tài chính của nước Mỹ tiếp tục ngập sâu trong rắc rối.

ĐBQH Nguyễn Tuyết Liên (Sóc Trăng): Nên bổ sung vấn đề thừa kế tiền bảo hiểm, tiền gửi và khoản tiền gửi khi có rủi ro xảy ra
 
Đối tượng được bảo hiểm tiền gửi quy định tại Khoản 2 Điều 4 là “người được bảo hiểm tiền gửi là cá nhân có tiền gửi được bảo hiểm tại tổ chức tham gia bảo hiểm tiền gửi”. Tôi thống nhất với dự thảo Luật quy định người được bảo hiểm tiền gửi là cá nhân, song tôi cũng đề nghị xem thêm tại Khoản 1, Khoản 2 Điều 19, vì quy định trên có quy định tiền gửi tại tổ chức bảo hiểm, tổ chức tín dụng, tiền gửi tại tổ chức tín dụng của các cá nhân là người sở hữu trên 5% vốn điều lệ tại chính tổ chức tín dụng đó và Khoản 2 Điều 19 quy định tiền gửi tại tổ chức tín dụng của cá nhân là thành viên hội đồng thành viên, thành viên hội đồng quản trị, thành viên ban kiểm soát, tổng giám đốc, giám đốc, phó tổng giám đốc, phó giám đốc của chính tổ chức tín dụng đó. Tiền gửi tại chi nhánh ngân hàng nước ngoài của cá nhân là tổng giám đốc, phó tổng giám đốc, giám đốc, phó giám đốc của chính chi nhánh ngân hàng nước ngoài đó được quy định tại Khoản 1, Khoản 2 Điều 19 về các loại tiền gửi không được bảo hiểm, theo tôi không nên quy định vấn đề này trong dự thảo Luật Bảo hiểm tiền gửi vì nội dung này đã được quy định tại Luật Các tổ chức tín dụng.

Về thủ tục trả tiền bảo hiểm quy định tại Điều 26 dự thảo Luật, tôi cơ bản thống nhất với ý kiến cần quy định việc thông báo về địa điểm, thời gian, phương thức trả tiền bảo hiểm tại Khoản 3, Điều 26 phải gửi đến địa chỉ của người được bảo hiểm tiền gửi vì nếu quy định chỉ thông báo trên phương tiện thông tin đại chúng thì sẽ có trường hợp người được bảo hiểm tiền gửi không biết được thông tin thì sẽ làm ảnh hưởng đến quyền lợi của người gửi tiền. Ngoài ra, đề nghị bổ sung đối với vấn đề thừa kế tiền bảo hiểm, tiền gửi cũng như khoản tiền gửi khi có rủi ro xảy ra.
 
ĐBQH Phan Văn Quý (Nghệ An): Nếu áp dụng một mức phí bảo hiểm lâu dài sẽ như một sự bao cấp cho những ngân hàng yếu kém
 
Hiện nay, phí bảo hiểm tiền gửi được tính bằng 0,15% trên số tiền gửi bình quân của các loại tiền gửi được bảo hiểm và tổ chức tham gia bảo hiểm tiền gửi được áp dụng đối với tất cả các tổ chức tham gia bảo hiểm tiền gửi. Việc áp dụng một mức phí bảo hiểm tiền gửi chung cho tất cả các tổ chức tham gia bảo hiểm tiền gửi, nếu áp dụng lâu dài sẽ như một sự bao cấp cho những ngân hàng yếu kém không tạo ra sự cạnh tranh lành mạnh giữa các ngân hàng trong hệ thống.

Hai, thực trạng chung của một mức phí bảo hiểm tiền gửi trong thời gian qua đã dẫn đến một nghịch lý các ngân hàng thanh khoản kém luôn tạo ra các bước về huy động lãi suất, đặt người gửi tiền vào rủi ro rất lớn và đặt hệ thống ngân hàng trong trường hợp báo động.

Ba, hiện nay để tính phí bảo hiểm tiền gửi nhiều nước trên thế giới dựa vào những tiêu chí của hệ thống CAMEL, hệ thống này đánh giá ngân hàng theo thứ tự 1 đến 5. Một là tốt nhất, 5 là kém nhất theo các chỉ tiêu vốn, chất lượng, giá trị tài sản có, khả năng quản trị lợi nhuận, khả năng thanh toán tiền mặt, sự nhạy cảm của ngân hàng trước rủi ro của thị trường. Tại Việt Nam mới đây ngân hàng Nhà nước đã ban hành Chỉ thị 01/CT- NH ngày 13/2/2012 trong đó xác định rõ chỉ tiêu tăng trưởng tín dụng năm 2012 có 4 nhóm ngân hàng, tổ chức tín dụng. Việc xếp hạng và áp dụng chỉ tiêu tăng trưởng tín dụng cho từng nhóm tổ chức tín dụng đánh giá được đúng thực trạng của các tổ chức tín dụng này, tạo ra sân chơi bình đẳng trong hệ thống ngân hàng. Đây cũng là bước tiến quan trọng để có thể đi đến xây dựng một hệ thống tiêu chí xếp hạng ngân hàng làm cơ sở để xây dựng phí bảo hiểm tiền gửi dựa trên thứ tự xếp hạng của mỗi ngân hàng. Từ những lý do trên đây cho thấy việc thay đổi cách tính phí bảo hiểm tiền gửi là cần thiết và nên tính theo phí bảo hiểm tiền gửi theo mức độ rủi ro của tổ chức tham gia bảo hiểm tiền gửi. Cách tính này có ưu điểm là đối với tổ chức tham gia bảo hiểm tiền gửi, việc tính phí bảo hiểm mức độ rủi ro sẽ tạo một sân chơi cạnh tranh lành mạnh cho các ngân hàng, tạo ra động lực cho các tổ chức tín dụng ngân hàng trong quá trình hoạt động, tránh sự chi phối của lợi ích nhóm, tạo ra sự đấu tranh ngay trong hội đồng quản trị, ban điều hành giữa các hội đồng với Hội đồng quản trị, giữa các cổ đông với ban điều hành. Trong các vấn đề quản lý thanh khoản, quản trị rủi ro, kiểm soát tăng trưởng tín dụng, kiềm chế nợ xấu để tổ chức tín dụng ngân hàng mình có được chỉ tiêu tăng trưởng cao, hệ số rủi ro thấp được hưởng mức phí bảo hiểm tiền gửi thấp nhất. Đối với người gửi tiền mức phí bảo hiểm tiền gửi sẽ phản ánh thực trạng của tổ chức tín dụng ngân hàng là cơ sở để người gửi tiền có nhiều lựa chọn khi tham gia gửi tiền, xây dựng và áp dụng phí bảo hiểm tiền gửi theo mức độ rủi ro và vấn đề thiết yếu phản ánh đúng quy luật của thị trường.
 
ĐBQH Nguyễn Mạnh Cường (Quảng Bình): Quy định liên quan đến tổ chức bảo hiểm tiền gửi còn mang tính nguyên tắc
 
Tôi nhận thấy những quy định về các vấn đề liên quan đến tổ chức bảo hiểm tiền gửi còn mang tính nguyên tắc và chưa thực sự thể hiện tính minh bạch trong hoạt động của tổ chức tiền gửi. Khi nói đến bảo hiểm tiền gửi và hoạt động của tổ chức bảo hiểm tiền gửi phải nói đến quỹ bảo hiểm tiền gửi, nhưng trong chương này hoàn toàn không nói gì đến quỹ bảo hiểm tiền gửi cũng như việc sử dụng quỹ này vào những mục đích nào.

Chương này cũng quy định chế độ tài chính do Ngân hàng Nhà nước và Bộ Tài chính quy định, còn Chính phủ đề nghị do Ngân hàng Nhà nước chủ trì phối hợp với Bộ Tài chính quy định. Ở đây tôi đề cập tới một vấn đề khác. Tổ chức bảo hiểm tiền gửi được xác định nó là một tổ chức tài chính. Tuy nhiên về tính chất hoạt động rất giống với tổ chức bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp. Tuy so sánh thì có sự khập khiễng, nhưng khi bàn về tổ chức bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế thì trong luật phải quy định rất rõ chi phí quản lý quỹ bảo hiểm đó được xác định như thế nào.

Trong Luật Bảo hiểm xã hội, Luật Bảo hiểm y tế cũng đã phải xác định rõ là chi phí quản lý bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế được xác định bằng mức chi phí quản lý của cơ quan hành chính nhà nước. Vậy, trong luật này đối với chi phí quản lý bảo hiểm tiền gửi có nguyên tắc nào để xác định hay không nhằm bảo đảm tính công bằng trong hoạt động của các quỹ với tính chất tương tự như nhau? Tôi nghĩ rằng chúng ta cần phải cân nhắc để bảo đảm tính bình đẳng cũng như tính thống nhất trong hệ thống chính sách.
 
ĐBQH Đặng Ngọc Quỳnh (Hưng Yên): Có biện pháp có thể dung hòa hai phương án…
 
Đối với loại tiền gửi được bảo hiểm, theo tôi nếu theo phương án thứ nhất thì chính sách thay đổi thì luật cũng phải thay đổi. Nếu chọn phương án thứ 2 thì chính sách thay đổi luật vẫn không thay đổi, vấn đề tôi đặt ra là như vậy. Theo như cách đánh giá của UBTVQH như vậy cũng rất đúng nhưng trong ý kiến thứ hai nếu như mỗi một giai đoạn mà yêu cầu của kinh tế – xã hội thay đổi thì không mấy khi lại thay đổi luật. Ví dụ hiện tại theo cách đánh giá bây giờ như phương án thứ 2 thì Nhà nước sẽ khuyến khích kiều hối và thu hút tiền gửi bằng ngoại tệ nhưng hiện nay chúng ta không chọn phương án này. Vậy, khi đến một giai đoạn nào đó thấy nhu cầu này là cần thiết mà không phải mấy khi điều chỉnh được điều này. Do vậy, vấn đề này giữa loại ý kiến thứ nhất và loại ý kiến thứ hai thì tôi đưa ra một phương án có thể dung hòa, thỏa mãn được cả 2 phương án này. Đó là ta dùng yếu tố thứ 5 – phí bảo hiểm tiền gửi để điều chỉnh giữa hai phương án này. Nếu như loại hình tiền gửi theo phương án thứ nhất khuyến khích thì phí bảo hiểm có thể ở mức độ thấp hơn. Còn không khuyến khích gửi bằng ngoại tệ và tài sản quý khác thì đặt chính sách thu phí ở chỗ này cao lên, khi đó mức độ tham gia cũng sẽ hạn chế đi và sẽ thỏa đáng được yêu cầu này.
 
ĐBQH Trần Du Lịch (TP Hồ Chí Minh): Nên chọn mô hình giữa…
 
Tổ chức bảo hiểm tiền gửi là một định chế tài chính tham gia thị trường tài chính ở một nước. Ở các nước có 3 mô hình, mô hình chi trả đơn giản thụ động, mô hình chi trả mở rộng tức là thêm cảnh báo và giám sát rủi ro và mô hình tối đa tức là tham gia giám sát thị trường. Mô hình nào gắn liền với cách tổ chức tài chính của nước đó. Mô hình tổ chức giám sát chung của thị trường tài chính, còn hiện nay thị trường tài chính nước ta mô hình tổ chức không rõ ràng thành ra áp dụng mô hình nào cũng rất khó. Tuy nhiên trên đặc điểm hiện nay, theo tôi nên chọn mô hình giữa. Đơn giản quá thì không ổn, mở rộng quá cũng không ổn. Tôi cho rằng trong quá trình phát triển thị trường tài chính Việt Nam mô hình đó là phù hợp. Như vậy về mô hình tôi tán đồng với mô hình chi trả mở rộng như dự thảo Luật.

Về tổ chức thực thi. Tổ chức bảo hiểm tiền gửi là một tài chính công phi lợi nhuận, thực hiện chức năng, nhiệm vụ như đã xác định dưới sự quản lý nhà nước của Ngân hàng Nhà nước nhưng bắt buộc phải là một tổ chức có quyền gọi là tự chủ hay độc lập tương đối với tư cách là pháp nhân. Do đó không có lý do gì tổ chức đó như một cơ quan trực thuộc Ngân hàng Nhà nước được. Ít ra cũng được như hiện nay, tức là do Chính phủ thành lập. Tuy nhiên, trong cả hai phương án mà UBTVQH đề nghị trong dự thảo ngay cả phương án thứ nhất là do Thủ tướng thành lập, tôi đề nghị Điều 29 nên sửa lại một chút. Nếu như Điều 29 Khoản 1 nói rằng “tổ chức bảo hiểm tiền gửi là tổ chức bảo hiểm tài chính do Thủ tướng Chính phủ thành lập”. Đến Khoản 3 thì Thống đốc Ngân hàng Nhà nước quy định chức năng, nhiệm vụ, cơ cấu tổ chức. Thế thì Thủ tướng mà thành lập lại không định ra cái gì hết thế quyết định một cách đơn giản như vậy để làm gì? Do đó nếu thống nhất quan điểm do Thủ tướng thành lập thì tôi đề nghị bổ sung như sau: Khoản 1 ghi rõ: “Tổ chức bảo hiểm tiền gửi là tổ chức tài chính do Thủ tướng Chính phủ thành lập; quy định chức năng, nhiệm vụ và cơ cấu tổ chức hoạt động” phải rõ ràng như vậy. Khoản 3 sửa lại là “Thống đốc Ngân hàng Nhà nước thực hiện chức năng quản lý nhà nước tổ chức bảo hiểm tiền gửi theo quy định của Thủ tướng Chính phủ” tức là “anh” quản lý trên cái đó.

Về phí bảo hiểm tiền gửi, tôi ủng hộ vấn đề phí bảo hiểm tiền gửi như giải trình là không đưa vào luật mà để Chính phủ quy định. Bởi vì điều này liên quan đến độ rủi ro, cách xếp loại ngân hàng. Tôi ủng hộ để Ngân hàng Nhà nước tùy điều kiện của từng tổ chức tín dụng mà xếp hạng thì độ rủi ro cao thì phí cao. Tuy nhiên, để chặt chẽ thì Khoản 2 của Điều 20 đề nghị viết thêm. Khoản 2 Điều 20 cũ là “Ngân hàng Nhà nước quy định mức phí bảo hiểm tiền gửi cụ thể đối với tổ chức tham gia bảo hiểm tiền gửi trên cơ sở kết quả đánh giá và phân loại các tổ chức này, đoạn đó giữ nguyên, viết thêm đoạn nữa là dựa theo khung phí bảo hiểm tiền gửi do Chính phủ ban hành, “anh” linh hoạt nhưng dưới khung này chứ không phải “anh” quy định thế này, thế khác, phải viết mới chặt chẽ được, đoạn sau bắt buộc phải có, tức là ngân hàng Nhà nước linh hoạt trên khung đó…
 
ĐBQH Đặng Xuân Huy (Đồng Tháp): Không nên bảo hiểm tiền gửi bằng vàng
 
Về phí bảo hiểm tiền gửi, tôi thống nhất với ý kiến giao cho Thủ tướng Chính phủ quy định theo đề nghị của Ngân hàng Nhà nước trong từng thời kỳ hoạt động của các tổ chức tín dụng. Vì với vai trò quản lý trực tiếp, sát sao các tổ chức tín dụng của Ngân hàng Nhà nước về việc đánh giá và việc xác định mức độ tín nhiệm cũng như mức độ rủi ro của từng tổ chức tín dụng tham gia bảo hiểm tiền gửi trên cơ sở đó quy định mức phí cụ thể đối với từng tổ chức tín dụng.

Thứ hai, trước đây tôi cũng chưa đồng tình việc không bảo hiểm tiền gửi bằng vàng vì không công bằng giữa các loại chứng chỉ tiền gửi với nhau. Nhưng nay tôi tán thành việc không bảo hiểm tiền gửi bằng vàng vì lý do: Ngân hàng Nhà nước đã ban hành Thông tư 12 điều chỉnh một số điều Thông tư 11 về việc các tổ chức tín dụng chấm dứt huy động tiền gửi bằng vàng vào ngày 25/11/012. Như vậy các tổ chức tín dụng không được huy động chứng chỉ tiền gửi bằng vàng nữa thì không cần phải bảo hiểm tiền gửi bằng vàng.
 
ĐBQH Nguyễn Đình Quyền (Hà Nội): Vấn đề có ý nghĩa quyết định đến luật là tư cách và địa vị pháp lý của tổ chức bảo hiểm tiền gửi
 
Vấn đề có ý nghĩa quyết định đến luật này đó là tư cách và địa vị pháp lý của tổ chức bảo hiểm tiền gửi. Nếu không xác định rõ tư cách và địa vị pháp lý của tổ chức bảo hiểm tiền gửi thì trong luật này sẽ nhầm lẫn về mối quan hệ pháp luật. Nếu tổ chức tiền gửi là một bộ phận, là một cơ cấu của tổ chức ngân hàng, mối quan hệ giữa tổ chức bảo hiểm tiền gửi với người gửi tiền đó là quan hệ hành chính sẽ có việc khiếu nại hành vi hành chính và quyết định hành chính. Nếu tổ chức tiền gửi là một đơn vị sự nghiệp có thu hoặc một đơn vị doanh nghiệp có thể là doanh nghiệp kinh doanh hoặc doanh nghiệp công ích, mối quan hệ đó lại là mối quan hệ dân sự, nếu có tranh chấp được giải quyết theo quy định của pháp luật dân sự, pháp luật tố tụng dân sự và thương mại. Chúng tôi không rõ vì tổ chức bảo hiểm tiền gửi là tổ chức tài chính không nói lên gì cả, nó là một doanh nghiệp, nó là đơn vị sự nghiệp có thu hoặc là một cơ quan thuộc cơ cấu của cơ quan quản lý nhà nước. Vì không rõ như vậy nên trong này quan hệ pháp luật giữa tổ chức bảo hiểm tiền gửi với người gửi tiền cũng không rõ, tại sao quan hệ giữa cá nhân gửi tiền với một đơn vị hoạch toán có thu lại có chuyện khiếu nại tố cáo, khiếu nại tố cáo chỉ liên quan đến hành vi hành chính và quyết định hành chính. Trong này quan hệ pháp luật rất mập mờ, không rõ chỗ nào, quan hệ về kinh tế nhưng lại liên quan đến khiếu nại tố cáo là thế nào, tôi không hiểu về vấn đề đó. Đã là quan hệ kinh tế phát sinh thì phải theo quy định của pháp luật về kinh tế, pháp luật về dân sự, và tố tụng dân sự thương mại.

Tôi đề nghị chỉ có một loại hình: một là thuộc cơ cấu thuộc Ban, Vụ, Viện thuộc Ngân hàng Nhà nước; hai là một doanh nghiệp, có thể là doanh nghiệp kinh doanh, có thể là doanh nghiệp dịch vụ công, doanh nghiệp công ích; ba là đơn vị sự nghiệp có thu hoặc đơn vị sự nghiệp theo ngân sách nhà nước…
 
ĐBQH Trần Hoàng Ngân (TP Hồ Chí Minh): Có nên bảo hiểm tiền gửi là ngoại tệ không?  
 
Tôi băn khoăn về loại tiền gửi cần phải bảo hiểm. Trong điều kiện kinh tế vĩ mô hiện nay có dấu hiệu đang suy giảm rất mạnh. Tình hình hệ thống ngân hàng cũng đang có nhiều vấn đề và bộc lộ những yếu kém nhất định. Cho nên tôi nghĩ rằng việc chỉ bảo hiểm tiền gửi bằng đồng Việt Nam thôi thì e rằng chưa đạt được những mục đích của Luật Bảo hiểm tiền gửi. Tuy tiêu đề dự án luật là Luật Bảo hiểm tiền gửi chứ cũng không có phân biệt bảo hiểm tiền gửi tiền đồng Việt Nam hay là Luật Bảo hiểm tiền gửi ngoại tệ.

Vấn đề thứ hai nữa là mục đích của luật này là để làm gì. Mục đích của Luật Bảo hiểm tiền gửi là để bảo vệ người gửi tiền. Vậy thì người gửi ngoại tệ cũng cần được bảo vệ. Mục đích thứ hai là Luật Bảo hiểm tiền gửi là để bảo đảm an toàn hệ thống. Tiền gửi ngoại tệ hiện nay chiếm tỷ trọng rất lớn trong tổng số vốn huy động trong hệ thống ngân hàng. Tiền gửi ngoại tệ, kể cả cá nhân và tổ chức kinh tế, tôi nghĩ rằng hiện nay không dưới 20%, như vậy thì cũng trên dưới 20 tỷ USD. Nếu như không bảo hiểm loại tiền gửi ngoại tệ này thì trong trường hợp có những bất trắc xảy ra thì khả năng an toàn hệ thống có được an toàn hay không?

Chính vì lẽ đó, tôi đề nghị nghiên cứu xem xét nên trong giai đoạn hiện nay, có thể trong 5 năm thậm chí có thể dài hơn nữa vẫn tiếp tục bảo hiểm tiền gửi tiền đồng Việt Nam và bảo hiểm tiền gửi bằng ngoại tệ.  

Nguồn: Báo điện tử Đại biểu nhân dân