“Việt Nam có quá nhiều ngân hàng!”
Người Việt Nam đang lo ngại sâu sắc về USD trong bối cảnh hệ thống tài chính của nước Mỹ tiếp tục ngập sâu trong rắc rối.

Nhân dịp này, ông Ashok Sud, Tổng giám đốc điều hành Ngân hàng Standard Chartered (Anh) tại Việt Nam, Lào và Campuchia, Trưởng nhóm ngân hàng thuộc VBF, đã trả lời phỏng vấn xoay quanh các nội dung chính về ngân hàng được thảo luận tại diễn đàn lần này.

Trong chương trình nghị sự của VBF, nhóm ngân hàng kiến nghị ba vấn đề lớn cần được Chính phủ và Ngân hàng Nhà nước (NHNN) ưu tiên giải quyết. Ông có thể nói rõ hơn điểm này?

Ông Ashok Sud: Nhóm công tác ngân hàng của Phòng Thương mại châu Âu (EuroCham) tại Việt Nam, đại diện cho hơn 30 định chế tài chính của hơn 15 nước, đã kiến nghị lên Chính phủ cùng NHNN những đề xuất để thúc đẩy sự phát triển của lĩnh vực ngân hàng.

Những đề xuất của chúng tôi nhằm vào ba vấn đề lớn: một lộ trình nhìn xa trông rộng cho ngành ngân hàng; hiệu suất và sự minh bạch trong cách thức hoạt động của thị trường và các biện pháp để giảm “chi phí cung cấp” các sản phẩm và dịch vụ ngân hàng; cuối cùng là những nguyên tắc hướng dẫn rõ ràng và loại bỏ những trở ngại lớn đối với ngành ngân hàng bán lẻ và tài chính tiêu dùng.

Về lộ trình nhìn xa trông rộng, đó là kế hoạch 5-7 năm, trong đó Chính phủ cần dự đoán ngành ngân hàng sẽ phát triển như thế nào đến năm 2015 và những biện pháp nào cần theo đuổi để đạt được mục tiêu đề ra.

Theo đó, có mấy vấn đề cần được chú trọng. Thứ nhất, thúc đẩy việc triển khai Nghị định 22/2006 (về tổ chức và hoạt động của chi nhánh ngân hàng nước ngoài, ngân hàng liên doanh, ngân hàng 100% vốn nước ngoài, văn phòng đại diện tổ chức tín dụng nước ngoài tại Việt Nam) nhằm giúp ba ngân hàng quốc tế đã được nhận giấy phép thành lập ngân hàng con 100% vốn nước ngoài tại Việt Nam chuyển đổi các chi nhánh thành các công ty trực thuộc.

Thứ hai, nên minh bạch hóa vấn đề khi nào hạn mức nắm giữ 20% cổ phần của một ngân hàng nước ngoài trong một ngân hàng Việt Nam được nâng lên, và nâng lên bao nhiêu theo Nghị định 69/2007 (về việc nhà đầu tư nước ngoài mua cổ phần của ngân hàng thương mại Việt Nam). Sự minh bạch này sẽ đem lại phương thức tiếp cận mang tính xây dựng và có kế hoạch cho ngành ngân hàng Việt Nam.

Các ông đề xuất giải pháp gì liên quan đến Nghị định 22/2006?

Mặc dù NHNN đã cấp giấy phép cho ba ngân hàng nhưng vẫn còn một số vấn đề chưa rõ ràng trong việc chuyển đổi chi nhánh của ba ngân hàng này thành công ty trực thuộc.

Chúng tôi kiến nghị NHNN nhanh chóng thiết lập một tiểu ban với các chuyên viên từ tất cả các bộ phận liên quan của NHNN nhằm tạo điều kiện cho các ngân hàng nước ngoài được đối thoại và trình bày giải pháp thúc đẩy việc chuyển đổi. Các cuộc đối thoại mang tính tương tác dưới hình thức “một cửa” sẽ làm cho quá trình thực thi hiệu quả và mang tính xây dựng.

Những vướng mắc trong lĩnh vực ngân hàng bán lẻ và tài chính tiêu dùng thì sao, thưa ông?

Hạn chế hiện nay chính là trần lãi suất tối đa bằng 150% lãi suất cơ bản của NHNN. Ngân hàng bán lẻ và tài chính tiêu dùng trên toàn thế giới được quản lý và điều tiết khác với việc cho công ty và doanh nghiệp vay, vì vậy chính sách tại Việt Nam cần tính đến sự khác biệt cơ bản này và đối xử khác nhau giữa ngân hàng bán buôn dành cho doanh nghiệp và ngân hàng bán lẻ cho cá nhân.

Việc ấn định trần lãi suất chung như vậy sẽ gián tiếp đẩy cá nhân ra khỏi hệ thống ngân hàng và đưa họ đến thị trường vay nợ “ngầm” hay những kẻ cho vay nặng lãi.

Hiện Việt Nam có khoảng 80 ngân hàng thương mại (NHTM). Ông nghĩ gì về con số này?

Với số lượng như vậy, tôi e rằng Việt Nam có quá nhiều ngân hàng, đặc biệt là 25% số ngân hàng có hiệu quả kinh doanh hạn chế đang khiến lòng tin vào hệ thống ngân hàng có nguy cơ sa sút vì sự bất ổn và thiếu thanh khoản.

Có hai nguy cơ lớn ở đây là khả năng huy động vốn của hệ thống ngân hàng để duy trì kinh doanh ổn định và khả năng quản trị ngân hàng, đặc biệt trong thời điểm khó khăn hiện nay.

Vì thế, Chính phủ cần khuyến khích việc sáp nhập trong ngành ngân hàng để đảm bảo số lượng ngân hàng ít hơn và hoạt động vững chắc hơn. Song hiện tại lại chưa có lộ trình cũng như quy định rõ ràng về vấn đề này.

Theo ông, thách thức lớn nhất đối với ngành ngân hàng Việt Nam trong bối cảnh khủng hoảng tài chính thế giới là gì?

Việc phát triển tài chính – ngân hàng tại bất kỳ nước nào đều là thử thách và vì vậy phải được thực hiện dần dần từng bước một. Tôi cho rằng Việt Nam đã và đang thực hiện khá tốt trong bối cảnh nền tài chính thế giới trải qua nhiều biến động.

Tuy nhiên, vẫn còn nhiều điều phải làm để vượt qua những thách thức sắp tới nhằm thúc đẩy nền kinh tế tăng trưởng. Chẳng hạn như: làm sao để số lượng người Việt Nam sử dụng dịch vụ ngân hàng nhiều hơn mức 10% dân số hoặc cần làm gì để hạn chế nền “kinh tế tiền mặt”? Biện pháp nào để nhanh chóng giải quyết tình trạng “đô la hóa” nền kinh tế và giúp cho chính sách tiền tệ hiệu quả hơn?

Cần kiểm soát mức tăng trưởng của dịch vụ ngân hàng bán lẻ và tài chính tiêu dùng theo hai hướng. Một là áp dụng mức cho vay tối đa (dựa vào tiền gửi) đối với tài chính tiêu dùng tại mỗi ngân hàng để đảm bảo sự cân đối giữa cho vay cá nhân và doanh nghiệp.

Hai là NHNN quy định một mức tối đa nhất định mà các cá nhân có thể vay đối với cổ phiếu/tài sản để đảm bảo rằng các cá nhân không rút ra quá lượng tiền cho phép từ hệ thống ngân hàng.

Nguồn: Thời báo Kinh tế Sài Gòn Online